📝 Tổng hợp đề kiểm tra Cuối học kì 1 môn Ngữ văn từ lớp 6 → 12
Bộ sưu tập đề kiểm tra Cuối học kì 1 môn Ngữ văn cho học sinh từ lớp 6 đến lớp 12. Mỗi đề đều kèm đáp án và hướng dẫn chấm chi tiết giúp học sinh ôn luyện hiệu quả trước kỳ thi.
🧠 Cập nhật liên tục – giúp học sinh ôn tập vững vàng trước kỳ thi cuối học kì 1.

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP GIỮA KỲ II
NGỮ VĂN 8- NĂM HỌC 2024-2025
ĐỌC HIỂU
1.Ngữ liệu:
a.Văn bản truyện ngắn hiện đại:
Nhận biết:
– Người kể chuyện, ngôi kể, đề tài, nhân vật, cốt truyện, tình huống truyện, chi tiết tiêu biểu.
– Tình cảm, cảm xúc của người viết thể hiện qua ngôn ngữ văn bản.
– Nhận biết được từ láy, trợ từ, thán từ.
– Các biện pháp tu từ: so sánh, nhân hóa, điệp ngữ, nói quá, đảo ngữ.
Thông hiểu:
– Hiểu được tác dụng của ngôi kể, người kể.
– Hiểu được nghĩa của từ; ý nghĩa của chi tiết, hình ảnh đặc sắc.
– Hiểu tác dụng của biện pháp tu từ, từ láy.
– Hiểu được đặc điểm của nhân vật.
– Hiểu nội dung, bài học, thông điệp từ văn bản.
Vận dụng:
– Trình bày suy nghĩ, quan điểm của bản thân về vấn đề đặt ra trong văn bản.
– Liên hệ vấn đề trong văn bản với cuộc sống…
b.Văn bản thơ trữ tình:
Nhận biết:
– Nhận biết thể thơ, vần, nhịp…
– Nhận biết được các hình ảnh thơ tiêu biểu, đặc sắc.
– Nêu được chủ đề của bài thơ, cảm xúc chủ đạo của nhân vật trữ tình trong bài thơ.
– Nhận biết từ láy, trợ từ, thán từ
– Nhận biết được các biện pháp tu từ: so sánh, nhân hóa, điệp ngữ, đảo ngữ, nói quá.
Thông hiểu:
– Hiểu chủ đề, tư tưởng của bài thơ; tâm trạng, cảm xúc của nhân vật trữ tình.
– Hiểu được tác dụng của các từ láy, trợ từ, thán từ; nghĩa của từ; tác dụng của các biện pháp tu từ : so sánh, nhân hóa, điệp ngữ, đảo ngữ, nói quá.
– Hiểu được ý nghĩa của các hình ảnh thơ tiêu biểu, đặc sắc.
Vận dụng:
– Ý nghĩa của bài thơ đối với mỗi người.
– Liên hệ vấn đề trong văn bản với cuộc sống (bài học, cách nghĩ và cách ứng xử)…
2.Cách làm đọc hiểu: 2 câu trắc nghiệm tự luận: (câu 9, câu 10):
Câu 9:( nêu nội dung hoặc ý nghĩa hoặc bài học hoặc thông điệp):
-Đọc kỹ đoạn trích, chú ý cả nhan đề để hiểu nội dung, bài học, thông điệp mà tác giả gửi gắm trong đó
-Viết 2-3 câu văn diễn tả lại
Câu 10: liên hệ một vấn đề trong đoạn trích với cuộc sống
+nêu ngắn gọn vấn đề là gì?
+Trách nhiệm của bản thân về vấn đề đó(làm gì để…)
LÀM VĂN:
Viết bài văn phân tích tác phẩm văn học ( truyện)
Yêu cầu:
– Xác định được kiểu bài văn nghị luận văn học – phân tích một tác phẩm truyện.
– Xác định được vấn đề nghị luận: Giá trị nội dung, đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm truyện.
– Đảm bảo bố cục của bài văn nghị luận.
– Hiểu được cách trình bày luận điểm, luận cứ, lập luận trong bài văn nghị luận văn học.
-Trình bày, phân tích rõ các khía cạnh của vấn đề.
III. ĐỀ MINH HOẠ
ĐỀ 1: Đọc bài thơ sau và trả lời các câu hỏi:
- ĐỌC – HIỂU (6 điểm)
Thăm thẳm trời xanh lộng đáy hồ,
Mùi hoa thiên lý thoảng chiều thu.
Con cò bay lả trong câu hát,
Giấc trẻ say dài nhịp võng ru.
Lá thấp cành cao gió đuổi nhau,
Góc vườn rụng vội chiếc mo cau.
Trái na mở mắt, nhìn ngơ ngác,
Đàn kiến trường chinh tự thuở nào.
Lúa trổ đòng tơ, ngậm cốm non,
Lá dài vươn sắc lưỡi gươm con.
Tiếng chim mách lẻo cây hồng chín,
Điểm nhạt da trời những chấm son. (…)
(Trích Chiều thu, Nguyễn Bính, NXB Văn học, 1993)
Câu 1: Xác định thể thơ của văn bản:
A. Tự do B. Thất ngôn (bảy chữ)
C. Thất ngôn bát cú D. Song thất lục bát
Câu 2: Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích là:
A. Miêu tả B. Biểu cảm C. Tự sự D. Nghị luận
Câu 3: Các biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ thơ thứ hai là:
A. Nhân hóa, liệt kê B. Nhân hóa, so sánh
C. Điệp từ, điệp ngữ D. Đối lập, tương phản
Câu 4: Ở khổ thơ đầu của bài thơ cảnh vật được miêu tả bằng những giác quan nào?
A. Thị giác B. Thính giác C. Khứu giác D. Cả ba giác quan trên
Câu 5: Đề tài của bài thơ là:
A. Đề tài cuộc sống thôn quê B. Đề tài vẻ đẹp đồng quê
C. Đề tài cảnh đẹp đất nước D. Đề tài vẻ đẹp thiên nhiên
Câu 6: Chủ đề của bài thơ là:
A. Tâm trạng bâng khuâng thương nhớ quê nhà của người con xa quê
B. Tâm trạng lưu luyến của con người khi rời xa quê hương
C. Vẻ đẹp thơ mộng, đầy sức sống của bức tranh thiên nhiên chiều thu
D. Vẻ đẹp của cuộc sống lao động bình dị nơi quê nhà
Câu 7: Bức tranh mùa thu được miêu tả trong bài thơ là bức tranh như thế nào?
A. Bức tranh buồn, hiu hắt B. Bức tranh tươi tắn, đầy sức sống
C. Bức tranh kì vĩ, tráng lệ D. Bức tranh bí ẩn, kì thú
Câu 8: Câu thơ “Lá thấp cành cao gió đuổi nhau,
Góc vườn rụng vội chiếc mo cau”. Sử dụng biện pháp nghệ thuật gì?
A. So sánh
B. Nhân hoá
C. Liệt kê
D. Điệp từ
Câu 9. Nhận xét về nét đặc sắc của tác giả trong cách cảm nhận vẻ đẹp của mùa thu.
Câu 10. Từ đoạn thơ trên, hãy cho biết vai trò của quê hương đối với cuộc đời mỗi con người.
VIẾT (4 điểm)
Em hãy phân tích truyện “Củ khoai nướng” của tác giả Tạ Duy Anh.
Sau trận mưa rào vòm trời như được rửa sạch, trở nên xanh và cao hơn.Đã chớm hè nhưng trời vẫn lành lạnh, cái lạnh làm người ta hưng phấn và chóng đói. Thường Mạnh đi học về là đi thả trâu. Tối mịt cậu rong trâu về, đầu tưởng tượng đến một nồi cơm bốc khói nghi ngút.
Nhưng từ giờ đến tối còn lâu và cậu cần phải tìm được một việc gì đó trong khi con trâu đang mải miết gặm cỏ. Cậu bèn ngồi đếm từng con sáo mỏ vàng đang nhảy kiếm ăn trên cánh đồng màu đã thu hoạch. Thỉnh thoảng chúng lại nghiêng ngó nhìn cậu, ý chừng muốn dò la xem “anh bạn khổng lồ” kia có thể chơi được không. Chợt Mạnh phát hiện ra một đám mầm khoai đỏ au, mập mạp, tua tủa hướng lên trời. Kinh nghiệm đủ cho cậu biết bên dưới những chiếc mầm là củ khoai lang sót. Với bất cứ đứa trẻ trâu nào thì điều đó cũng tương đương với một kho báu. Nó bị sót lại từ trước Tết và bây giờ nó sẽ rất ngọt. Để xem, anh bạn to cỡ nào? Không ít trường hợp bên dưới chỉ là một mẩu khoai. Nước miếng đã kịp tứa khắp chân răng khi cậu tưởng tượng đến món khoai nướng. Ruột nó trong như thạch. Những giọt mật trào ra, gặp lửa tạo một thứ hương thơm chết người, nhất là khi trời lại lành lạnh thế này. Thật may là mình đem theo lửa – cậu lẩm bẩm. Sợ niềm hy vọng đi veo mất nên cậu rón rén bới lớp đất mềm lên. Khi cậu hoàn toàn tin nó là một củ khoai thì cậu thọc sâu tay vào đất, sâu nữa cho đến khi những ngón tay cậu ôm gọn củ khoai khá bự, cậu mới từ từ lôi nó lên. Chà, thật tuyệt vời. Nó không chỉ đơn thuần là củ khoai sót. Nó y như quà tặng, một thứ kho báu trời đất ban riêng cho cậu.
Mạnh đã có việc để làm, mà lại là một việc làm người ta háo hức. Trong chốc lát đống cành khô bén lửa và đợi đến khi nó chỉ còn lớp than hồng rực Mạnh mới vùi củ khoai vào. Cậu ngồi im lắng nghe một sự dịch chuyển vô cùng tinh tế dưới lớp than, cùi trắng muốt đang bị sức nóng ủ cho thành mật. Từng khoảnh khắc với Mạnh lúc này trở nên vô cùng huyền diệu. Rồi có một mùi thơm cứ đậm dần, cứ quánh lại, lan tỏa, xoắn xuýt. Cậu nhớ lại có lần bà kể, nhờ đúng một củ khoai nướng mà ông cậu thoát chết đói và sau đó làm nên sự nghiệp. Chuyện như cổ tích nhưng lại có thật. Nào, để xem sau đây cậu sẽ làm nên công trạng gì.
Chợt cậu thấy có hai người, một lớn, một bé đang đi tới. Ông già ôm theo bọc tay nải còn cậu bé thì cứ ngoái cổ lại phía làng. Cậu nhận ra hai ông cháu lão ăn mày ở xóm bên. Hôm nay, chẳng có phiên chợ sao ông cháu lão cũng ra khỏi nhà nhỉ. Vài lần giáp mặt cậu bé và thấy mặt mũi nó khá sáng sủa. Bố mẹ nó chết trong một trận lũ quét nên nó chỉ trông cậy vào người ông mù lòa.
Mạnh lén trút ra tiếng thở dài khi ông cháu lão ăn mày đã đến rất gần. Có thể thấy rõ cánh mũi lão phập phồng như hà hít tìm thứ mùi vị gì đó. Cậu bé vẫn câm lặng, thỉnh thoảng lén nhìn Mạnh.
– Mùi gì mà thơm thế – ông cậu bé lên tiếng – Hẳn ai đang nướng khoai. Ngồi nghỉ một lát để ông xin lửa hút điếu thuốc đã cháu.
Ông lão lần túi lấy gói thuốc lào. Thằng bé giúp ông tháo khỏi lưng chiếc điếu nhỏ xíu. Mùi khoai nướng vẫn ngào ngạt và Mạnh đành ngồi chết gí, không dám động cựa. Chỉ khi ông lão nhờ, cậu mới cúi xuống thổi lửa. Chà, ông cháu lão mà ngồi dai là củ khoai cháy mất. Đã có mùi vỏ cháy. Lửa sẽ lấn dần vào cho đến khi biến củ khoai thành đen thui mới thôi. Dường như đoán được nỗi khó xử của Mạnh, ông lão bảo:
– Tôi chỉ xin lửa thôi…
Mạnh như bị bắt quả tang đang làm chuyện vụng trộm, mặt đỏ lên. Nhưng ông lão mắt lòa không thể nhìn thấy còn cậu bé ý tứ nhìn đi chỗ khác.
– Thôi, chào cậu nhé. Ta đi tiếp đi cháu!
Ông lật đật đứng dậy, bám vào vai cậu bé, vội vã bước. Cậu bé lặng lẽ nhìn Mạnh như muốn xin lỗi vì đã làm khó cho cậu. Cái nhìn đĩnh đạc của một người tự trọng, không muốn bị thương hại khiến Mạnh vội cúi gằm xuống. Ôi, giá như có ba củ khoai, chí ít cũng là hai củ. Đằng này chỉ có một… Mạnh thấy rõ tiếng chân hai ông cháu xa dần. Nhưng chính khi ấy, khi củ khoai nóng hổi, lớp vỏ răn lại như từng gợn sóng nằm phơi ra trước mắt Mạnh, thì nỗi chờ đón háo hức lúc trước cũng tiêu tan mất. Giờ đây củ khoai như là nhân chứng cho một việc làm đáng hổ thẹn nào đó. Dù Mạnh có dối lòng rằng mình chẳng có lỗi gì sất nhưng cậu vẫn không dám chạm vào củ khoai… Hình như đã có người phải quay mặt đi vì không dám ước có được nó. Có thể ông nội cậu đã từng nhìn củ khoai nướng cho ông làm nên sự nghiệp bằng cái cách đau đớn như vậy.
Mặc dù rong trâu về từ chiều nhưng mãi tối mịt Mạnh mới vào nhà. Giờ đây mới là lúc cậu sống trọn vẹn với cảm giác ngây ngất của người vừa được ban tặng một món quà vô giá. Cậu nhắm mắt lại mường tượng giây phút cậu bé kia mở gói giấy báo ra. Nửa củ khoai khi đó sẽ khiến cậu ta liên tưởng đến phép lạ, có thể lắm chứ! Và rồi cậu thấy lâng lâng đến mức chính mình tự hỏi liệu đây có phải là giấc mơ?
(https://isach.info/story.php?story=cu_khoai_nuong__ta_duy_anh)
*Chú thích:
Tác giả: Tạ Duy Anh có tên khai sinh là Tạ Việt Dũng, sinh ngày 9/9/1959 quê ở Chương Mĩ, tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội). Ông là cây bút trẻ trong thời kì đổi mới. Qua hơn 20 năm cầm bút, Tạ Duy Anh vẫn luôn luôn trăn trở tìm cách đổi mới từ duy, quan niệm nghệ thuật, làm mới tác phẩm từ nội dung tới hình thức, từ ngôn ngữ tới cấu trúc. Tạ Duy Anh tiếp nối những dòng văn đầy trăn trở nhưng cũng đầy tính nhân văn. Tác phẩm: Củ khoai nướng nằm trong tập “Truyện ngắn chọn lọc” – Tạ Duy Anh.
ĐỀ 2:
Phần I. Đọc hiểu (6,0 điểm)
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
Cha tôi
Nhà tôi có bốn người.
Cha tôi thế hệ 5X, chớm già. Hơn nửa thế kỉ có mặt trên đời thì bốn mươi năm
cha mặc áo nhà binh, cầm súng và xa nhà. Mẹ thế hệ 6X, sinh sau cha hơn một giáp, luôn chịu cảnh xa chồng. Chị Mai tôi thế hệ 7X đã gần ba mươi tốt nghiệp đại học, chị đi làm cho một doanh nghiệp Nhật Bản, suốt ngày ăn cơm tiệm.
Tôi, thế hệ 8X, mười chín tuổi, tốt nghiệp phổ thông hạng làng nhàng, thi vào đại học hai lần đều trượt. Sống theo ý mình luôn là cảm hứng thường trực và tự do muôn năm. Sống tự do theo ý thích, tôi suốt ngày chơi bời, đàn đúm. …đầu tóc thì đổi kiểu xoành xoạch, hết nhuộm hoe hoe vàng lại hấp màu lông chuột.
Cha khoác ba lô về hẳn nhà, nghỉ hưu. Một ba lô quân phục màu phân ngựa. Hai đôi giầy đen một cũ một mới. Một mũ kê pi. Chín cái huân, huy chương đỏ rực, vàng chóe. Một đôi dép đúc mòn vẹt gót. Nghe nói cha cất giữ từ hồi ở Trường Sơn.
(…) Đến tận lúc về, con bé bạn tôi còn chưa hết hãi:
– Khiếp! Ông già mày ghê quá. Hỏi tao mà cứ như mật thám hỏi cung các chiến sĩ cộng sản trong nhà tù đế quốc thực dân ấy.
– Bố tao nghiêm thế. Nhưng mà thương vợ con và mọi người lắm.
– Tao đếch thích kiểu thương ấy. Bận sau nếu có chuyện gì tao với mày ra quán cà phê cho tiện.
Cánh cổng khép lại. Tôi mang theo nỗi ấm ức của thằng con trai mới lớn.
– Cha cứ làm kiểu này thì con hết bạn, hết chỗ chơi. Từ bây giờ có giời bảo cũng chẳng đứa nào dám đến nhà mình nữa.
– Mẹ con con ăn uống, đi lại, ngủ nghỉ, chơi bời không ổn chút nào. Ma túy, tệ nạn xã hội đầy ra đấy. Các con còn non nớt. Rất dễ sa ngã.
Tôi tức quá cãi lại:
– Bao nhiêu năm qua không có cha, mẹ con con vẫn sống tốt cơ mà. Cả cuộc đời cha ở trong quân đội, ngoài việc sinh bọn con ra cha đã làm được cái gì cho cái nhà này chưa mà cha trách mắng mọi người…
Nói chưa dứt, mắt tôi đã hoa cả lên. Một cái tát nổ đom đóm mắt từ bàn tay thô ráp quen cầm súng nhà binh. Tôi ngã dúi. Cha quát to:
– Chả nhẽ cha đi bộ đội bao nhiêu năm cống hiến cho đất nước là để cho con nói với cha bằng cái giọng chợ giời ấy hả? Bà ấy đâu rồi? Con hư tại mẹ.
Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà. Bà tôi mất từ lâu lắm rồi còn mẹ ở cửa hàng mỹ phẩm vẫn chưa về, chị Mai ngoan ngoãn thì đi học thêm Anh văn. Dường như lòng tự trọng của đứa con trai mới lớn chấm hết. Tất cả kìm hãm, dồn nén sự khó chịu của tôi từ lúc cha về đã quá đủ. Cha – một người cha đi biền biệt bao nhiêu năm để rồi bỗng dưng về nhà xới tung lên mọi thứ với kỷ luật nhà binh. Tôi nói với cha:
– Thôi cha! Đừng bao giờ nói với con về những ngày tháng cha đi bộ đội. Thời oai hùng xa lắm lắm rồi, cha ạ.
Sắc mặt của cha tôi đỏ hồng lại tím nhanh dễ sợ. Môi ông lắp bắp:
– Mà… mày… nói… ca… cái… gì?
Ông ôm đầu, đau đớn, ngồi phịch xuống giường gấp.
– Chẳng có gì cả! Con nói là, – Tôi nhấn mạnh từng chữ – con chán ghét cha và cả những điều cha nghĩ, những gì cha nói và cha làm. Cha đã biến cả nhà ta thành trại lính.
Tôi cãi lại cha và tôi lao khỏi nhà. Tôi bỏ đi lang thang trên phố. Đêm tôi không về. Sau này, khi “trời yên biển lặng”, tôi mới biết: Suốt đêm ấy, cha lo lắng sợ tôi dạt vòm đi bụi đời. Ông điện thoại báo hung tin về thằng con quý tử bỏ nhà cho bạn bè, đồng đội đã phục viên, xuất ngũ, nghỉ hưu biết. Người nọ vội vã gọi người kia lan truyền theo cấp số nhân, như thể chiến tranh sắp nổ ra, huy động gần hết một “tiểu đoàn quân” đi tìm… tôi.
(Trích Cha tôi, Sương Nguyệt Minh, vănnghe.ninhbinh.gov.vn)
Câu 1(0,5 điểm). Phương thức biểu đạt chính của văn bản trên là?
A. Tự sự
B. Miêu tả
C. Biểu cảm
D. Thuyết minh
Câu 2(0,5 điểm). Xác định ngôi kể của văn bản.
A. Ngôi thứ ba
B. Ngôi thứ nhất
Câu 3(0,5 điểm). Hình ảnh người bố trong đoạn trích hiện lên trong cảm nhận của nhân vật tôi như thế nào?
A. Một người lãng mạn
B. Rất nghiêm khắc
C. Nghiêm khắc nhưng thương vợ con và mọi người
D. Hay tếu, trêu đùa
Câu 4(0,5 điểm). Nhân vật tôi đã nhận ra điều gì sau hôm cãi lại cha và bỏ đi lang thang trên phố?
A. Sự ghét bỏ của cha
B. Tình yêu thương của cha
C. Sự thù hận của mọi người
D. Tình yêu của mẹ
Câu 5 (0,5 điểm) Từ khi người cha về nghỉ hưu, cuộc sống của gia đình đặc biệt là nhân vật tôi có gì thay đổi?
A. Nhà thành trại lính
B. Nhà lúc nào cũng đầy ắp tiếng cười
Câu 6 (0,5 điểm). Nhân vật tôi trong truyện có lối sống như thế nào?
A. Tự do
B. Nghiêm túc
C. Lành mạnh
D. Quái đản
Câu 7 (0,5 điểm). Em có nhận xét gì về thái độ của nhân vật Tôi trong truyện đối với người bố?
A. Chán ghét
B. Hạnh phúc
C. Biết ơn
D. Tôn trọng
Câu 8 (0,5 điểm). Tác phẩm viết về đề tài gì?
A. Quê hương
B. Gia đình
C. Thiên nhiên
D. Chiến tranh
Câu 9 (1,0 điểm) Tình cảm của người cha dành cho con trong văn bản có gì đặc biệt?
Câu 10 (1,0 điểm) Em rút ra được bài học gì từ câu chuyện trên?
Phần II. Viết (4,0 điểm)Em hãy phân tích đoạn trích sau:
“Ông lại nghĩ về cái làng của ông, lại nghĩ đến những ngày cùng làm việc với anh em. Ô, sao mà độ ấy vui thế. Ông thấy mình như trẻ ra. Cũng hát hỏng, bông phèng(1), cũng đào, cũng cuốc mê man suốt ngày. Trong lòng ông lão lại thấy náo nức hẳn lên. Ông lại muốn về làng, lại muốn được cùng anh em đào đường đắp ụ, xẻ hào, khuân đá… Không biết cái chòi gác ở đầu làng đã dựng xong chưa? Những đường hầm bí mật chắc còn là khướt(2) lắm, Chao ôi! Ông lão nhớ làng, nhớ cải làng quá.”
[…]
“Ông Hai quay phắt lại, lắp bắp hỏi:
– Nó… Nó vào làng Chợ Dầu hở bác? Thế ta giết được bao nhiêu thằng? Người đàn bà ẵm con cong môi lên đỏng đảnh:
– Có giết được thằng nào đâu. Cả làng chúng nó Việt gian(3) theo Tây còn giết gì nữa!
Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi, tưởng như đến không thở được. Một lúc lâu ông mới dặn è è, nuốt một cái gì vướng ở cổ, ông cất tiếng hỏi, giọng lạc hẳn đi:
-Liệu có thật không hở bác? Hay chỉ lại…[….]
Ông lão vờ vờ đứng lảng ra chỗ khác, rồi đi thẳng[…]
Ông Hai cúi gằm mặt xuống mà đi. Ông thoáng nghĩ đến mụ chủ nhà.
Về đến nhà, ông Hai nằm vật ra giường, mấy đứa trẻ thấy bố hôm nay có vẻ khác, len lét đưa nhau ra đầu nhà chơi sậm chơi sụi với nhau.
Nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông lão cứ giàn ra. Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư?Chúng nó cũng bị người ta rẻ rung hắt hủi đấy ư? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu…ông lão nắm chặt hai tay lại mà rít lên:
-Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này.
(Trích Làng, Kim Lân, Ngữ văn 9, tập một,NXB Giáo dục Việt Nam, 2017, tr.162)
Chú thích:
*Nhà văn Kim Lân (1920 – 2007) là một trong những cây bút xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại. Ông tên thật là Nguyễn Văn Tài, sinh ra tại làng Phù Lưu, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc thành phố Từ Sơn, Bắc Ninh).Kim Lân chuyên viết về đề tài nông thôn và người nông dân Việt Nam trước và sau Cách mạng tháng Tám..Ông có sở trường viết truyện ngắn với lối kể chuyện chân thực, giản dị nhưng sâu sắc.
*Truyện ngắn “Làng” của Kim Lân được viết vào năm 1948, trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Đây là giai đoạn đất nước đang bước vào cuộc chiến đấu gian khổ nhưng đầy khí thế và lòng yêu nước.
Đề 3:
Đọc hiểu (6,0 điểm)
Đọc bài thơ sau và Lựa chọn đáp án đúng cho các câu từ 1 đến 8, mỗi câu đúng 0,5 điểm
Quê hương
Quê hương là chùm khế ngọt
Cho con trèo hái mỗi ngày.
Quê hương là đường đi học
Con về rợp bướm vàng bay.
Quê hương là con diều biếc
Tuổi thơ con thả trên đồng.
Quê hương là con đò nhỏ
Êm đềm khua nước ven sông.
Quê hương là cầu tre nhỏ
Mẹ về nón lá nghiêng che
Quê hương là đêm trăng tỏ
Hoa cau rụng trắng ngoài hè
Quê hương mỗi người chỉ một
Như là chỉ một mẹ thôi
Quê hương nếu ai không nhớ…
Sẽ không lớn nổi thành người.
Câu 1. Bài thơ được viết theo thể thơ nào?
A. Tự do B. Năm chữ C. Sáu chữ D. Bảy chữ
Câu 2 Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của bài thơ ?
A. Tự sự B. Miêu tả C. Biểu cảm D. Nghị luận
Câu 3: Trong các từ sau, từ nào không phải là từ ghép?
A. Êm đềm. B. Cầu tre. C. Nón lá. D. Con diều
Câu 4: Các biện pháp tu từ được sủ dụng chủ yếu trong bài thơ
A. nhân hóa, điệp ngữ
B. Điệp ngữ, so sánh
C. ẩn dụ, hoán dụ
D. ẩn dụ, so sánh.
Câu 5. Từ được nhắc lại nhiều nhất trong bài thơ ?
A. con đò
B. chùm khế
C. con diều
D. quê hương
Câu 6. Những hình ảnh được dùng để so sánh trong bài thơ là những hình ảnh như thế nào?
A. Bình dị, gần gũi, thân thương.
B. Rộng lớn, kì vĩ, tráng lệ.
C. Bao la, sơn thủy hữu tình.
D. Lung linh, rực rỡ, huyền ảo.
Câu 7. Đáp án nào thể hiện rõ nhất nội dung của bài thơ?
A. Tình yêu quê hương là tình cảm tự nhiên, sâu sắc gắn với những điều bình dị, gần gũi, thân thuộc nhất nuôi dưỡng ta khôn lớn, trưởng thành.
B. Tình cảm gia đình là tình cảm tự nhiên, sâu sắc khiến ta có động lực, có ý chí, nghị lực vươn lên trong cuộc sống.
C. Tình yêu quê hương, đất nước chính là yêu cha mẹ, gia đình, người thân, yêu vẻ đẹp của quê hương.
D. Tình yêu quê hương gắn với những cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc.
Câu 8. Đáp án nào diễn tả chính xác nhất tình cảm của nhà thơ đối với quê hương?
aTự hào về vẻ đẹp của quê hương
- Yêu mến vẻ đẹp của quê hương
- Yêu mến, tự hào về vẻ đẹp của quê hương
- Ca ngợi vẻ đẹp của quê hương
Câu 9. Nêu tác dụng của các biện pháp tu từ được sử dụng trong 2 câu in đậm?
Câu 10: Thông điệp mà nhà thơ gửi gắm qua bài thơ Quê hương?
II.Viết(4 điểm):Phân tích đoạn trích trong truyện ngắn “Bà tôi” của Xuân Quỳnh.
“… Bà tôi vẫn thường hay nói với tôi: “Bà sống được ngày nào hay ngày ấy. Người già như ngọn đèn trước gió, không biết tắt lúc nào”.
Bữa ăn bà thường ngồi đầu nồi, lấy đũa cả đánh tơi cơm ra rồi xới. Bà xới cho bà bát cơm trên, sau mới xới cho cả nhà và cho tôi. Khi ăn, bao giờ bà cũng ăn sau. Mùa hè bà bảo là phải quạt một chút cho mát, mùa rét thì bà bảo bà phải nghỉ một tí cho đỡ mệt rồi bà mới ăn. Bà ăn rất ít, thường thì chỉ hai lưng, một lưng cơm, một miếng cháy. Trong lúc ăn, bà hay để ý đến tôi, nếu tôi có vẻ thích ăn món gì thì bà lại ít ăn món ấy. Có khi bà cần chan một ít nước dưa hoặc ăn với một vài quả cà pháo là xong bữa.Lại còn chỗ nằm của bà thì rất đơn giản: một miếng ván hay một cái chõng nhỏ cũng đủ để bà ngủ ngon (mặc dù bà rất tỉnh ngủ).Suốt những năm thơ ấu, tôi thường ngủ cạnh bà. Tôi còn nhớ là bà nằm rất ít chỗ, có khi bà chỉ nằm nghiêng suốt đêm bên lề cái phản hẹp, còn tôi thì vùng vẫy xoay xở gần hết cả phản. Khi ấy tôi cũng không hiểu là do bà tôi bé nhỏ hay là bà quen nằm hẹp như vậy.
Bố mẹ tôi đi làm cả ngày, chỉ có bữa ăn, sáng sớm và chiều tối là đầy đủ cả gia đình. Trong bữa ăn, mẹ tôi thường trao đổi với bà về giá cả chợ búa, còn bố tôi thì thỉnh thoảng kể chuyện về cơ quan của bố tôi v.v… Hàng ngày chỉ có tôi và bà tôi là ở gần nhau và hay chuyện trò với nhau nhiều nhất. Tôi đi học một buổi, về lại quanh quẩn nhặt rau, lấy muối giúp bà, xâu kim cho bà vá quần áo. Khi ngồi khâu, bà hay kể cho tôi nghe bao nhiêu là truyện: Truyện Kiều, truyện Nhị Độ Mai… những truyện vần, bà thường thuộc từ đầu đến cuối. Có lúc bà lại kể chuyện về bố tôi, hồi bố tôi còn bé hay đau ốm như thế nào, bà đã phải nuôi bố tôi vất vả như thế nào v.v… Bà kể đi kể lại những chuyện như vậy làm tôi cũng thuộc làu đến nỗi nếu như bà kể câu trước là tôi có thể tiếp câu sau được. (Trích Bà tôi- Xuân Quỳnh)
Chú thích:
*Xuân Quỳnh (1942 – 1988), tên khai sinh là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh.
Quê quán: xã La Khê, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội).
Mồ côi mẹ từ nhỏ, Xuân Quỳnh sống với bà nội, tuổi thơ gắn liền với sự chăm sóc và dạy dỗ của bà.Phong cách: trẻ trung, giàu nữ tính
*Truyện ngắn Bà tôi của Xuân Quỳnh được viết vào năm 1978. Đây là một tác phẩm giàu cảm xúc, thể hiện tình yêu thương sâu sắc của tác giả đối với người bà đã nuôi dưỡng mình từ nhỏ. Thông qua truyện ngắn này, Xuân Quỳnh không chỉ kể về những kỷ niệm tuổi thơ mà còn bày tỏ lòng biết ơn và nỗi tiếc thương khi bà qua đời.
Gợi ý:
Mở bài
Thân bài:
LĐ1: giới thiệu chung(1 đoạn văn)
Truyện ngắn Bà tôi của Xuân Quỳnh được viết vào năm 1978. Đây là một tác phẩm giàu cảm xúc, thể hiện tình yêu thương sâu sắc của tác giả đối với người bà đã nuôi dưỡng mình từ nhỏ.
-Nhân vật chính của truyện là người bà qua cảm nhận của cháu. Thông qua truyện ngắn này, Xuân Quỳnh không chỉ kể về những kỷ niệm tuổi thơ mà còn bày tỏ lòng biết ơn và nỗi tiếc thương khi bà qua đời.
LĐ 2: giá trị nội dung sâu sắc của tác phẩm: ngợi ca tình bà cháu(2 đoạn)
Đoạn 1:vẻ đẹp tâm hồn người bà
– đảm đang, tần tảo
+Nhà văn XQ không kể nhiều về đặc điểm này của người bà. Thế nhưng chỉ qua một vài chi tiết người cháu cảm nhận, ta vẫn hiểu được phẩm chất này của bà. “Bữa ăn bà thường ngồi đầu nồi, lấy đũa cả đánh tơi cơm ra rồi xới” “bà vá quần áo”. “bà chăm sóc bố tôi vất vả”
+Chỉ qua mấy chi tiết, ta hình dung được một người bà luôn tần tảo, chịu thương chịu khó giành về mình những vất vả thiệt thòi. Đây cũng chính là hình ảnh người bà trong mắt mỗi người cháu Việt Nam, người bà tần tảo vì chồng,vì con,vì cháu, tận tụy cả đời vì gia đình
– tình yêu thương con cháu của bà.
+Yêu thương cháu, bà nhường nhịn cho cháu từ miếng ăn, giấc ngủ. Vẻ đẹp này của bà được nhà văn XQ hóa thân vào nhân vật người cháu xưng tôi kể lại. Bà nhường cho con cháu bát cơm dẻo thơm khi bà “ xới cho bà bát cơm trên, sau mới xới cho cả nhà và cho tôi”, “Khi ăn, bao giờ bà cũng ăn sau” “Bà ăn rất ít, thường thì chỉ hai lưng, một lưng cơm, một miếng cháy.” “tôi có vẻ thích ăn món gì thì bà lại ít ăn món ấy”. Giấc ngủ của bà cũng vậy “bà nằm rất ít chỗ” “có khi bà chỉ nằm nghiêng suốt đêm bên lề cái phản hẹp”. Chính vì yêu thương cháu, muốn đứa cháu xoay trở thoải mái nên bà chọn tư thế ngủ như vậy.
+Yêu thương cháu, bà thường dạy bảo cho cháu những điều hay lẽ phải. Những lời dạy bảo đó của bà được thể hiện qua những câu chuyện bà kể “Truyện Kiều, truyện Nhị Độ Mai…” “ những truyện vần, bà thường thuộc từ đầu đến cuối.” Từ những câu chuyện đó, bà khơi dậy nuôi dưỡng trong cháu những tình cảm cao đẹp : tình cảm gia đình, lòng thương người… Bà muốn cháu lớn lên khỏe mạnh nhưng tâm hồn cũng ấm áp và giàu lòng thương cảm nữa.
Đoạn 2: Tình cảm cháu dành cho bà:
-Người cháu sống với ký ức về bà. cháu không chỉ nhớ lại những hành động của bà mà còn thể hiện sự thấu hiểu và trân trọng đối với tình yêu thương mà bà dành cho mình. Những hồi tưởng của nhân vật tôi về bà không chỉ là những ký ức ngọt ngào mà còn là những suy tư về sự hy sinh thầm lặng mà bà đã trải qua.
-Nhân vật tôi là hình mẫu của một người cháu hiếu thảo, luôn trân trọng và khắc sâu trong tâm trí những gì bà đã dành cho mình. Bằng ngôn từ mộc mạc, giản dị nhưng chân thành, XQ giúp người đọc hiểu thêm về những giá trị tình cảm gia đình.
LD3: nghệ thuật( 1 đoạn văn):
– Tác giả đã lựa chọn ngôi kể rất độc đáo.Đây là ngôi kể thứ nhât, người kể là đứa cháu khi đã trưởng thành kể lại tuổi thơ sống cùng bà. Ngôi kể này tạo được giọng điệu kể chuyện tâm tình, bày tỏ trực tiếp cảm xúc biết ơn của cháu, giúp cho câu chuyện trở nên đáng tin cậy.Người đọc như được trở về sống lại tuổi thơ của chính mình.
-Nhà văn sử dụng giọng kể nhẹ nhàng, chân thành, lôi cuốn. XQ như đang kể những chuyện quen thuộc trong mỗi gia đình “Suốt những năm thơ ấu, tôi thường ngủ cạnh bà.” “Bữa cơm bà ngồi đầu nồi”. Người đọc dễ dàng hiểu và đồng cảm với thế giới nội tâm của nhân vật, cảm nhận được tình yêu thương và nỗi đau mà nhân vật trải qua.
-XQ sáng tạo nhiều chi tiết giàu sức gợi.Xuân Quỳnh tạo ra các chi tiết đầy ấn tượng và ý nghĩa, từ việc mô tả cảnh vật đến mô tả tâm trạng nhân vật. Sự kết hợp này tạo nên một truyện ngắn có sức lôi cuốn và sâu sắc.
-Ngôn ngữ trong truyện rất giản dị, gần gũi với đời sống, phù hợp với cách kể chuyện của một đứa trẻ. Điều này giúp câu chuyện trở nên chân thực và dễ đi vào lòng người. Tất cả những yếu tố trên đã giúp tạo nên một câu chuyện chân thực và đầy cảm xúc.
-Nhan đề cũng là một yếu tố tạo nên thành công cho truyện. Nhan đề ngắn gọn, không chỉ đơn giản là cách gọi mà còn chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa sâu sắc về tình cảm gia đình, sự hi sinh, lòng biết ơn và trách nhiệm của con cháu. Nhan đề còn thể hiện sự tôn kính, lòng biết ơn của nhân vật tôi đối với người bà.
=>chốt
- Đánh giá
- Kết bài
📚 Ghi chú bản quyền & lời cảm ơn
Các tài liệu trên website được biên tập, định dạng lại và tổng hợp
từ nhiều nguồn công khai, nhằm mục đích hỗ trợ học tập, chia sẻ tri thức cho cộng đồng học sinh.
Nếu bạn là tác giả hoặc sở hữu bản quyền và không muốn nội dung xuất hiện tại đây, vui lòng liên hệ qua email mrcao.aof@gmail.com để mình gỡ xuống ngay. Xin chân thành cảm ơn!
⚠️ Trang web không thu bất kỳ khoản phí nào khi tải tài liệu. Mọi nội dung đều miễn phí cho học sinh và giáo viên.
🚫 Khuyến nghị: Không thực hiện thanh toán dưới bất kỳ hình thức nào cho các quảng cáo hoặc liên kết mạo danh website.
📚 Tham gia nhóm tài liệu
Cập nhật tài liệu, đề thi và bài ôn tập miễn phí mỗi ngày qua các kênh chat:
📝 Tổng hợp đề kiểm tra Cuối học kì 1 môn Ngữ văn từ lớp 6 → 12
Bộ sưu tập đề kiểm tra Cuối học kì 1 môn Ngữ văn cho học sinh từ lớp 6 đến lớp 12. Mỗi đề đều kèm đáp án và hướng dẫn chấm chi tiết giúp học sinh ôn luyện hiệu quả trước kỳ thi.
🧠 Cập nhật liên tục – giúp học sinh ôn tập vững vàng trước kỳ thi cuối học kì 1.