📝 Tổng hợp đề kiểm tra Cuối học kì 1 môn Ngữ văn từ lớp 6 → 12
Bộ sưu tập đề kiểm tra Cuối học kì 1 môn Ngữ văn cho học sinh từ lớp 6 đến lớp 12. Mỗi đề đều kèm đáp án và hướng dẫn chấm chi tiết giúp học sinh ôn luyện hiệu quả trước kỳ thi.
🧠 Cập nhật liên tục – giúp học sinh ôn tập vững vàng trước kỳ thi cuối học kì 1.
Phần I. Đọc hiểu (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới:
(1) Có những kiểu bắt nạt khác đã trở nên phổ biến cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, dựa vào Internet và hệ thống tin nhắn bằng điện thoại di động. Kiểu bắt nạt này được gọi là kiểu bắt nạt dựa trên công nghệ thông tin, và mặc dù người thực hiện hành vi bắt nạt không cần xuất hiện trước mặt nạn nhân, nó gây hại nhiều chẳng kém gì kiểu bắt nạt trực tiếp. Và thường thì kẻ bắt nạt thông qua thế giới ảo cũng hăm dọa và bắt nạt nạn nhân ở ngoài đời thực. Cũng thường thấy chuyện người và người bắt nạt nhau qua phương tiện thông tin bằng những lời đe dọa, đồn đại và ngôn ngữ thô tục.
(2) Bắt nạt dựa trên phương tiện thông tin được coi là yếu tố liên quan đến nhiều vụ tự sát của thiếu niên trong những năm gần đây. Ryan Halligan, một học sinh lớp tám ở Vermont, Hoa Kỳ đã tự sát vào năm 2003 sau khi những lời đồn đại về cậu lan tràn trên Internet. Cha của cậu miêu tả đó là một “sự điên cuồng” trong đó những đứa trẻ bình thường không làm những chuyện xấu lại tham gia vào những hành động tàn ác. Vào năm 2006, trong một vụ tự sát gây chú ý khác, Megan Meier ở Misouri được cho là đã bị đẩy đến chỗ phải tự sát bởi hành vi bắt nạt qua mạng của mẹ một bạn học chung lớp với cô.
(3) Trên thực tế đã có rất nhiều vụ việc nghiêm trọng xảy ra nên nhiều chính phủ giờ đây đã có luật chống lại việc sử dụng Internet hoặc điện thoại di động để quấy rầy hoặc hăm dọa người khác. Nếu bạn cảm thấy ai đó đang hành hạ bạn bằng những bức thư điện tử, những lời lẽ đăng trên mạng xã hội hoặc tin nhắn qua điện thoại thì tôi xin khẳng định rằng có nhiều cách để phản ứng. Nếu bạn đang sống cùng gia đình, thì bạn nên báo cho cha mẹ biết ngay lập tức để họ có thể quyết định nên làm gì.
(4) Nếu bạn là một nạn nhân của hành vi bắt nạt, thì bạn hãy nhớ rằng cuộc chiến quan trọng nhất mà bạn phải chiến thắng là cuộc chiến bên trong, cuộc chiến vượt lên chính mình. Cho dù ai đó nói gì về bạn hoặc làm gì đối với bạn chăng nữa thì bạn cũng không nên vì điều đó mà ghét bỏ chính mình. Bạn là người có giá trị. Hãy tin vào điều đó và hãy biến niềm tin thành hành động bằng cách vượt lên trên bất cứ lời đồn đại, bình phẩm hay sự xúc phạm nào.
(5) Kẻ bắt nạt muốn bạn tin rằng bạn không có giá trị như bạn vốn có, bởi vì việc hạ thấp bạn khiến kẻ bắt nạt cảm thấy mình vượt trội. Bạn không cần phải tham gia trò chơi đó. Thay vào đó, bạn hãy tập trung phát triển những khả năng, tài năng của mình. Niềm vui và sự mãn nguyện sẽ đến khi bạn bước trên con đường được tạo ra dành cho bạn và chỉ dành cho bạn mà thôi.
(Trích “Đừng bao giờ từ bỏ khát vọng”- Nick Vujicic, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, trang 202- 204)
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản?
Câu 2. Ở phần (2), tác giả đã đưa ra những dẫn chứng cụ thể nào?
Câu 3. Hãy chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ điệp ngữ được sử dụng trong hai đoạn văn (3) và (4).
Câu 4. Em hiểu như thế nào về ý kiến: “Nếu bạn là một nạn nhân của hành vi bắt nạt, thì bạn hãy nhớ rằng cuộc chiến quan trọng nhất mà bạn phải chiến thắng là cuộc chiến bên trong, cuộc chiến vượt lên chính mình.”?
Phần II. Viết
Câu 1. (2,0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày suy nghĩ về bệnh vô cảm trong cuộc sống hiện nay
Câu 2 (4,0 điểm): Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) phân tích bài thơ Cảm tết của Trần Tế Xương
CẢM TẾT
Anh em đừng nghĩ Tết tôi nghèo,
Tiền bạc trong kho chửa lĩnh tiêu.
Rượu cúc nhắn đem, hàng biếng quẩy,
Trà sen mượn hỏi, giá còn kiêu.
Bánh chưng sắp gói, e nồm chảy,
Giò lụa toan làm, sợ nắng thiu.
Thôi thế thì thôi, đành tết khác,
Anh em đừng nghĩ Tết tôi nghèo!
(Tú Xương, Tú Xương thơ và đời, NXB văn học)
| Câu | Nội dung | Điểm |
| ĐỌC HIỂU | 4,0 điểm | |
| 1 | Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận | 0.5 điểm |
| 2 | – Ở phần (2), tác giả đã đưa ra những dẫn chứng sau:
+ Ryan Halligan, một học sinh lớp tám ở Vermont, Hoa Kỳ đã tự sát vào năm 2003 sau khi những lời đồn đại về cậu lan tràn trên Internet. + Vào năm 2006, trong một vụ tự sát gây chú ý khác, Megan Meier ở Misouri được cho là đã bị đẩy đến chỗ phải tự sát bởi hành vi bắt nạt qua mạng của mẹ một bạn học chung lớp với cô. |
0.5 điểm |
| 3 | – Biện pháp điệp ngữ trong hai đoạn văn (3) và (4): “Nếu bạn…, thì…”.
– Tác dụng: + Nhấn mạnh làm nổi bật giả thiết và giải pháp để phòng chống tác hại của việc bắt nạt bằng sử dụng công nghệ thông tin. + Làm cho lập luận thêm sinh động, chặt chẽ, thuyết phục; tạo liên kết giữa các câu, các đoạn văn. + Giúp người đọc có được những giải pháp phòng khi trở thành nạn nhân của việc bắt nạt bằng sử dụng công nghệ thông tin. |
0.5 điểm
1.5 điểm
|
| 4 | – Nếu là nạn nhân của hành vi bắt nạt, thì điều quan trọng nhất là chúng ta phải chiến thắng chính mình, vượt lên chính mình, nghĩa là phải có niềm tin vào bản thân, có ý chí nghị lực, có bản lĩnh và chính kiến, vượt lên trên nỗi sợ hãi,… Khi đó, mọi bắt nạt bằng việc sử dụng công nghệ thông tin không thể làm hại được ta.
– Khuyên chúng ta nếu có trở thành nạn nhân của hành vi bắt nạt bằng công nghệ thông tin, thì việc quan trọng nhất là có niềm tin vào chính mình, biết làm chủ cảm xúc, hành vi của mình,… Từ đó, sẽ giúp chúng ta tránh được những hậu quả của việc bắt nạt bằng công nghệ thông tin. |
0.5 điểm
0.5 điểm |
| VIẾT | ||
| 1 | a. Đảm bảo thể thức đoạn văn
– Biết cách làm bài văn nghị luận về một vấn đề trong đời sống. – Bài viết có kết cấu chặt chẽ (đủ ba phần); lập luận chặt chẽ, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp. Trình bày ý mạch lạc, rõ ràng. Văn viết trong sáng, sáng tạo, có cảm xúc. |
0.25 điểm |
| b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: bệnh vô cảm trong cuộc sống hiện nay | ||
| c. Yêu cầu về kiến thức: Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách nhưng cần đảm bảo các ý cơ bản sau:
1. Mở đoạn Giới thiệu và dẫn dắt vào vấn đề cần nghị luận: “bệnh vô cảm” trong xã hội hiện nay. 2. Thân đoạn a. Giải thích – Vô cảm: thái độ lạnh lùng, thờ ơ, mặc kệ những người, những sự vật xung quanh đang lâm vào tình huống khó khăn. Người vô cảm là người ích kỉ, thấy khó khăn mà không giúp đỡ, không có sự rung cảm với cuộc đời, với con người. – Bệnh vô cảm là một căn bệnh xấu đang diễn biến phức tạp cần bị đào thải ra khỏi xã hội. b. Trình bày ý kiến phê phán của người viết * Biểu hiện của người mắc bệnh vô cảm: · – Sống ích kỉ, chỉ biết đến bản thân mình, những lợi ích mà mình sẽ nhận được mà không để tâm, nghĩ cho những người xung quanh. · – Gặp hoàn cảnh khó khăn không giúp, thấy người gặp nạn không mảy may rung cảm, dửng dưng vì nghĩ đó không phải chuyện của mình. · – Bệnh vô cảm còn dẫn đến hiện tượng sống ác, sẵn sàng làm hại người khác để đạt được mục đích, tư lợi của mình. *Nguyên nhân – Sự phát triển nhanh chóng của cuộc sống khiến con người phải sống nhanh hơn, không còn thời gian để ý tới những gì xung quanh – Sự bùng nổ mạnh mẽ của những thiết bị thông minh dẫn đến sự ra đời của các trang mạng xã hội ⇒ con người ngày càng ít giao tiếp trong đời thực – Sự chiều chuộng, chăm sóc, bao bọc quá kĩ lưỡng cha mẹ đối với con cái ⇒ coi mình là trung tâm, không để ý đến điều gì khác nữa – Sự ích kỉ của chính bản thân mỗi người. * Tác hại của bệnh vô cảm: · – Bệnh vô cảm làm cho chính bản thân người đó trở nên tệ hơn, trở nên xấu xa trong mắt mọi người. · – Bệnh vô cảm còn làm suy thoái đạo đức của xã hội, làm cho con người ngày càng xa rời nhau hơn, ai cũng chỉ nghĩ đến mình. *Bằng chứng Học sinh tự lấy dẫn chứng về những người sống vô cảm và gặp phải hậu quả để minh họa cho bài làm văn của mình. c. Đối thoại với ý kiến khác – Trong cuộc sống vẫn còn có nhiều người sống có tấm lòng yêu thương, lương thiện, nhân ái, biết nghĩ cho người khác, cho xã hội, sẵn sàng bỏ qua cái tôi cá nhân vì lợi ích chung,… Những người này đáng được tuyên dương, ngợi ca. e. Liên hệ bản thân Là thế hệ chủ nhân tương lai của đất nước, mỗi chúng ta cần biết sống yêu thương, chan hòa, sẵn sàng giúp đỡ người xung quanh, người có hoàn cảnh khó khăn hơn mình để xã hội ngày càng tốt đẹp hơn,… 3. Kết đoạn: Khái quát lại vấn đề nghị luận: “bệnh vô cảm” trong xã hội hiện nay. |
0.25 điểm
0.5 điểm
0.5 điểm
0.25 điểm
0.25 điểm |
|
| 2 | a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận: có đầy đủ 3 phần Mở bài, thân bài, kết bài. | 0.25 điểm
|
| b. Yêu cầu về nội dung
Xác định đúng vấn đề nghị luận: Qua bài thơ, Tú Xương vừa nói về hoàn cảnh túng quẫn của mình, vừa phê phán lối sống hình thức, trọng vật chất trong xã hội. |
0.25 điểm
|
|
| c. Triển khai vấn đề nghị luận: chia vấn đề nghị luận thành các luận điểm, luận cứ phù hợp, thuyết phục; sử dụng tốt các thao tác lập luận; biết kết hợp giữa nêu lí lẽ và đưa bằng chứng.Học sinh có thể phân tích theo các cách khác nhau. Sau đây là gợi ý một hướng triển khai:
1. Mở bài: Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề nghị luận: Phân tích bài thơ “Cảm Tết ” của Tú Xương. 2. Thân bài: a. Khái quát về hoàn cảnh ra đời/cảm hứng/ đề tài hoặc nhan đề: – Bài thơ được sáng tác vào khoảng những năm đầu tiên khi mà thực dân bắt đầu đặt chân lên đất nước ta. Lúc này xã hội rơi vào tình cảnh hỗn loạn, nhân dân lầm than, đói khổ. Gia đình Tú Xương cũng không phải ngoại lệ. Vì vậy mỗi dịp tết đến xuân về, ông đều rất buồn rầu vì chẳng có điều kiện ăn tết cho tươm tất. – Qua bài thơ, Tú Xương vừa nói về hoàn cảnh túng quẫn của mình, vừa phê phán lối sống hình thức, trọng vật chất trong xã hội. b. Phân tích nội dung chủ để của bài thơ “Cảm Tết ”- tiếng cười hài hước, một cách đùa cợt nhẹ nhàng về chính cảnh ngộ bản thân của nhà nho bất đắc chí TúXương. – Câu thơ mở đầu là lời thanh minh của thi nhân về gia cảnh bản thân: “ Anh em đừng nghĩ Tết tôi nghèo”. – Năm dòng thơ tiếp theo làm rõ cái “không nghèo” của gia chủ: Tiền bạc trong kho chửa lĩnh tiêu. Rượu cúc nhắn đem, hàng biếng quẩy, Trà sen mượn hỏi, giá còn kiêu. Bánh chưng sắp gói, e nồm chảy, Giò lụa toan làm, sợ nắng thiu. + Tiếng cười hài hước, nhẹ nhàng như đùa cợt được bật lên từ thủ pháp đối lập, cách sử dụng liệt kê trong đoạn thơ. Hàng loạt những vật chất cần có cho ngày Tết đều được gợi ra: tiền bạc, rượu cúc, trà sen, bánh chưng, giò lụa ,… Đây đều là những thứ thiết yếu con người nên có trong ngày Tết, chứ không có gì là xa hoa. Cách nói đối lập làm rõ sự tương phản giữa mong muốn của con người và thực tế chẳng có gì. Nhưng cái hài hước, dí dỏm là ở chỗ thi nhân biện minh cho những điều ấy một cách rất khéo léo. Tiền bạc không có bởi “trong kho chửa lĩnh tiêu”, rượu cúc” không có là do người bán rượu “hàng biếng quẩy”; trà sen không có vì “ giá còn kiêu ”; đến bánh chưng, giò lụa- những món ăn đặc trưng, dândã nhất của ngày Tết cổ truyền cũng không có nốt, nhưng cũngkhông do lỗi của gia chủ mà vì thời tiết “ e nồm chảy, sợ nắngthiu”. + Sau tiếng cười hài hước ấy rõ ràng là một thực tế đáng buồncủa thi nhân. Ở đây, thi nhân không thể có được bất cứ một thứ gì dù nhỏ và cần thiết nhất trong ngày Tết. Phải khó tới mức nào thì con người mới phải “phô phang” không giấu nổi cáinghèo như thế. Thì ra hài hước chính là cách gượng cười của con người trước sự túng thiếu, trước cái nghèo của gia đình mình. – Hai câu kết lại như một lời khẳng định để giãi bày: Thôi thế thì thôi, đành tết khác, Anh em đừng nghĩ Tết tôi nghèo! Bởi những nguyên do bất đắc dĩ, thi nhân đành hẹn tết khác sẽsung túc, đủ đầy “Thôi thế thì thôi, đành tết khác”. Câu thơcuối bài có sự lặp lại nguyên vẹn câu thơ mở đầu rõ ràng làmột lời phân trần sau khi đã giãi bày về cái nghèo không giấu nổi của mình: “Anh em đừng nghĩ Tết tôi nghèo!”. Rõ ràng là cười ra nước mắt của kẻ sĩ bất đắc chí. c. Phân tích một số đặc sắc nghệ thuật của bàithơ – tiếng cười hài hước trong bài thơ “Cảm Tết ” được thểhiện qua những hình thức nghệ thuật độc đáo. – “Cảm Tết ” là áng thơ thất ngôn bát cú với những quy địnhchặt chẽ về niêm, luật: bài thơ được làm theo luật bằng bởitiếng thứ hai của dòng thơ đầu là thanh bằng “ em”. – Về vần, bài thơ gieo vần chân ở các câu 1, 2, 4, 6, 8 là nghèo- tiêu – kiêu – thiu – nghèo. Trong đó, đặc biệt là hai tiếng mở đầu và khép lại chuỗi vần đều là chữ “nghèo” gợi liên tưởng tới cảnh ngộ nghèo khó như một vòng luẩn quẩn chẳng thể thoát ra. Nội dung chủ đề của bài thơ, tiếng cười hài hước nhẹnhàng mà chua chát của bài thơ cũng bật lên từ đó. – Thủ pháp tương phản được sử dụng thành công: Tiền bạc trong kho chửa lĩnh tiêu; Rượu cúc nhắn đem, hàng biếngquẩy; … – Cách nói tương phản vừa tạo ra cách diễn đạt hàihước, dí dỏm, gây cười cho bài thơ, vừa nhấn mạnh làm nổi bậtsự tương phản giữa những điều mong muốn và thực tiễn. – Ngôn ngữ, hình ảnh thơ mộc mạc, gần gũi, chân thực, tiêu biểu,… Kết bài: Khẳng định lại vấn đề nghị luận và liên hệ bản thân. |
0.5 điểm
0.25 điểm
0.25 điểm
0.5 điểm
0.5 điểm
0.5 điểm
0.5 điểm |
|
| d. Chính tả, ngữ pháp:
Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt; trình bày rõ ràng, sạch đẹp. |
0.25 điểm
|
|
| e. Sáng tạo:
Bài viết thể hiện góc nhìn riêng, lí lẽ sắc sảo, bằngchứng độc đáo, hấp dẫn, mới lạ; cách diễn đạt sáng tạo. |
0.25 điểm
|
📚 Ghi chú bản quyền & lời cảm ơn
Các tài liệu trên website được biên tập, định dạng lại và tổng hợp
từ nhiều nguồn công khai, nhằm mục đích hỗ trợ học tập, chia sẻ tri thức cho cộng đồng học sinh.
Nếu bạn là tác giả hoặc sở hữu bản quyền và không muốn nội dung xuất hiện tại đây, vui lòng liên hệ qua email mrcao.aof@gmail.com để mình gỡ xuống ngay. Xin chân thành cảm ơn!
⚠️ Trang web không thu bất kỳ khoản phí nào khi tải tài liệu. Mọi nội dung đều miễn phí cho học sinh và giáo viên.
🚫 Khuyến nghị: Không thực hiện thanh toán dưới bất kỳ hình thức nào cho các quảng cáo hoặc liên kết mạo danh website.
📚 Tham gia nhóm tài liệu
Cập nhật tài liệu, đề thi và bài ôn tập miễn phí mỗi ngày qua các kênh chat:
📝 Tổng hợp đề kiểm tra Cuối học kì 1 môn Ngữ văn từ lớp 6 → 12
Bộ sưu tập đề kiểm tra Cuối học kì 1 môn Ngữ văn cho học sinh từ lớp 6 đến lớp 12. Mỗi đề đều kèm đáp án và hướng dẫn chấm chi tiết giúp học sinh ôn luyện hiệu quả trước kỳ thi.
🧠 Cập nhật liên tục – giúp học sinh ôn tập vững vàng trước kỳ thi cuối học kì 1.