📝 Tổng hợp đề kiểm tra Cuối học kì 1 môn Ngữ văn từ lớp 6 → 12
Bộ sưu tập đề kiểm tra Cuối học kì 1 môn Ngữ văn cho học sinh từ lớp 6 đến lớp 12. Mỗi đề đều kèm đáp án và hướng dẫn chấm chi tiết giúp học sinh ôn luyện hiệu quả trước kỳ thi.
🧠 Cập nhật liên tục – giúp học sinh ôn tập vững vàng trước kỳ thi cuối học kì 1.

| SỞ GD & ĐT BẮC GIANG
TRƯỜNG THPT NGÔ SĨ LIÊN (Đề gồm có 02 trang) |
ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KỲ II
NĂM HỌC 2024 – 2025 Môn: Ngữ văn 11 Thời gian làm bài: 90 phút, không kể thời gian phát đề |
I, ĐỌC HIỂU (5,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
Bài học tuổi thơ
Thằng con tôi 11 tuổi, học lớp sáu. Qua mùa thi chuyển cấp, nhân một buổi chiều cho con đi chơi mát, nó kể… Đang hỏi nó về chuyện thi cử, nó chợt hỏi lại tôi:
– Ba! Có bao giờ thấy có một bài luận văn nào điểm không không ba? Con số không cô cho bự bằng quả trứng gà. Không phải cho bên lề, mà một vòng tròn giữa trang giấy. Thiệt đó ba. Chuyện ngay trong lớp của con, chứ không phải con nghe kể đâu.
Tôi chưa kịp hỏi, nó tiếp:
– Còn thua ba nữa đó, ba. Ít nhứt ba cũng được nửa điểm. Còn thằng bạn của con, con số không bự như quả trứng.
Thằng con tôi ngửa mặt cười, có lẽ nó thấy thú vị vì thời học trò của ba nó ít nhất cũng hơn được một đứa.
Số là cách đây vài năm, có một nhà xuất bản gởi đến các nhà văn nhà thơ quen biết trong cả nước một câu hỏi, tôi còn nhớ đại ý, nhà văn nhà thơ thời thơ ấu học văn như thế nào, nhà xuất bản in thành sách “Nhà văn học văn”. Đọc qua, nghe các nhà văn nhà thơ kể, tất nhiên là mỗi người có mỗi cuộc đời, mỗi người mỗi giọng văn, nhìn chung thì người nào, lúc còn đi học, cũng có khiếu văn, giỏi văn. Nếu không thì lấy gì làm cơ sở để sau này trở thành nhà văn? Rất lô-gích và rất là tự nhiên vậy. Duy chỉ có bài của tôi hơi khác, có gì như ngược lại. Tôi kể, hồi tôi học ở trường trung học Nguyễn Văn Tố (1948 – 1950), tôi là một học sinh trung bình, về môn văn không đến nỗi liệt vào loại kém, nhưng không có gì tỏ ra là người có khiếu văn chương. Và có một lần, bài luận văn của tôi chỉ được có một điểm trên hai mươi (1/20). Đó là kỷ niệm không quên trong đời học sinh của tôi, môn văn.
Khi con tôi đọc bài văn đó, con tôi hỏi:
– Sao bây giờ ba là nhà văn? Và bạn bè cũng hỏi như vậy. Tôi cũng đã tự lý giải về mình, và lời giải cũng đã in vào sách rồi, xin không nhắc lại.
Tôi hỏi con tôi:
– Luận văn cô cho khó lắm hay sao mà bạn con bị không điểm?
– Luận văn cô cho “Trò hãy tả buổi làm việc ban đêm của bố”.
– Con được mấy điểm?
– Con được sáu điểm.
– Con tả ba như thế nào?
– Thì ba làm việc làm sao thì con tả vậy.
– Mấy đứa khác, bạn của con?
Thằng con tôi như chợt nhớ, nó liến thoắng:
– A! Có một thằng ba nó không hề làm việc ban đêm mà nó cũng được sáu điểm đó ba.
– Đêm ba nó làm gì?
– Nó nói, đêm ba nó toàn đi nhậu.
– Nó tả ba nó đi nhậu à?
– Dạ không phải. Ba nó làm việc ban ngày nhưng khi nó tả thì nó tả ba nó làm việc ban đêm, ba hiểu chưa?
– Còn thằng bạn bị không điểm, nó tả như thế nào?
– Nó không tả không viết gì hết, nó nộp giấy trắng cho cô.
– Sao vậy?
Hôm trả lại bài cho lớp, cô gọi nó lên, cô giận lắm, ba. Cô hét: “Sao trò không làm bài”. Nó cúi đầu làm thinh. Cô lại hét to hơn: “Hả?”. Nó cũng làm thinh. Tụi con ngồi dưới, đứa nào cũng run.
– Nó là học trò loại ” cá biệt” à?
– Không phải đâu ba, học trò tiên tiến đó ba.
– Sao nữa? Nó trả lời cô giáo như thế nào?
Nó cứ làm thinh. Tức quá, cô mới quất cây thước xuống bàn cái chát: “Sao trò không làm bài?” Tới lúc đó nó mới nói: “Thưa cô, con không có ba”. Nghe nó nói, hai con mắt của cô con mở tròn như hai cái tô. Cô đứng sững như trời trồng vậy ba!
Tôi bỗng nhập vai là cô giáo. Tôi thấy mình ngã qụy xuống trước đứa học trò không có ba.
Sau đó cô và cả lớp mới được biết, em mồ côi cha khi vừa mới lọt lòng mẹ. Ba em hy sinh trên chiến trường biên giới. Từ ấy, má em ở vậy, tần tảo nuôi con…
…Có người hỏi em: “Sao mày không tả ba của đứa khác”. Em không đáp, cúi đầu, hai giọt nước mắt chảy dài xuống đôi má.
Chuyện của đứa học trò bị bài văn không điểm đã để lại trong tôi một nỗi đau. Em bị không điểm, nhưng với tôi, người viết văn là một bài học, bài học trung thực. Sáng tạo không đồng nghĩa với bịa đặt.
Giữa những dòng chữ bịa đặt và trang giấy trắng, tôi xin để trang giấy trắng trung thực trên bàn viết.
(Mùa thu, 1990- Truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng)
Trả lời câu hỏi:
Câu 1 (0,75 điểm): Xác định ngôi kể của người kể chuyện trong văn bản.
Câu 2 (0,75 điểm): Chỉ ra kỷ niệm không quên trong đời học sinh của nhân vật tôi.
Câu 3 (1.0 điểm): Phân tích hiệu quả của biện pháp tu từ so sánh trong đoạn văn sau:
Nó cứ làm thinh. Tức quá, cô mới quất cây thước xuống bàn cái chát: “Sao trò không làm bài?” Tới lúc đó nó mới nói: “Thưa cô, con không có ba”. Nghe nó nói, hai con mắt của cô con mở tròn như hai cái tô. Cô đứng sững như trời trồng vậy ba!
Câu 4 (1,0 điểm): Câu văn Có người hỏi em: “Sao mày không tả ba của đứa khác”. Em không đáp, cúi đầu, hai giọt nước mắt chảy dài xuống đôi má thể hiện cảm xúc gì của nhân vật?
Câu 5 (0.5điểm): Nhận xét tình cảm, thái độ của tác giả dành cho cậu bé học trò bị bài văn không điểm.
Câu 6 (1,0 điểm): Qua văn bản anh/chị hãy rút ra một thông điệp có ý nghĩa nhất với mình và lý giải.
II, VIẾT (5.0 điểm)
Anh/chị hãy viết bài văn nghị luận khoảng 600 chữ về sự cần thiết của tinh thần hợp tác trong cuộc sống.
———– Hết ———-
Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.
Họ và tên thí sinh: ………………………………………. Số báo danh: ……………
HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KÌ II
| Phần | Câu | Nội dung | Điểm | ||
| I | ĐỌC HIỂU | 5,0 | |||
| 1 | Xác định ngôi kể của văn bản: Ngôi thứ nhất
Hướng dẫn chấm: – Học sinh trả lời đúng như đáp án 0,75 điểm – Học sinh trả lời không đúng như đáp án: 0,0 điểm. |
0,75 | |||
| 2 | Chỉ ra kỷ niệm không quên trong đời học sinh của nhân vật tôi:
Có một lần, bài luận văn của tôi chỉ được có một điểm trên hai mươi (1/20) Hướng dẫn chấm: – Học sinh trả lời đúng như đáp án 0,75 điểm – Học sinh trả lời không đúng như đáp án: 0,0 điểm. |
0,75 | |||
| 3 | Phân tích hiệu quả của biện pháp tu từ so sánh trong đoạn văn sau:
Nó cứ làm thinh. Tức quá, cô mới quất cây thước xuống bàn cái chát: “Sao trò không làm bài?” Tới lúc đó nó mới nói: “Thưa cô, con không có ba”. Nghe nó nói, hai con mắt của cô con mở tròn như hai cái tô. Cô đứng sững như trời trồng vậy ba! -Nêu biểu hiện của biện pháp tu từ so sánh: + Hai con mắt của cô con mở tròn với hai cái tô + Cô đứng sững như trời trồng -Tác dụng: + Làm tăng sức gợi hình , gợi cảm, diễn đạt sinh động cho câu văn. + Nhấn mạnh sự ngạc nhiên, ngỡ ngàng cùng với nỗi buồn, sự tiếc nuối của cô giáo. + Thể hiện sự quan sát tinh tế của cậu bé. Hướng dẫn chấm: – Học sinh chỉ ra biểu hiện của BPTT so sánh : 0.25 đ – Học sinh trả lời tác dụng đúng 02 ý trong đáp án: 0,75 điểm – Học sinh trả lời tác dụng đúng 01 ý trong đáp án: 0,5 điểm – Học sinh trả lời tác dụng không đúng như đáp án: 0,0 điểm. |
1,0 | |||
| 4 | Câu văn Có người hỏi em: “Sao mày không tả ba của đứa khác”. Em không đáp, cúi đầu, hai giọt nước mắt chảy dài xuống đôi má thể hiện cảm xúc của nhân vật:
– Buồn tủi, ngậm ngùi, xót xa vì không có bố, bố mất sớm. – Tự hào vì bố là một anh hùng đã hi sinh vì đất nước. Hướng dẫn chấm: – Học sinh trả lời đúng như đáp án: 1,0 điểm – Học sinh trả lời đúng 01 ý trong đáp án: 0,5 điểm – Học sinh trả lời đúng cảm xúc mà không giải thích như đáp án: 0,5 điểm – Học sinh trả lời không đúng như đáp án: 0,0 điểm. |
1,0 | |||
| 5 | Thái độ của tác giả dành cho cậu bé học trò bị bài văn không điểm: Xót thương, ngưỡng mộ và khâm phục.
+ Xót thương cho nỗi đau mất cha, sống thiếu vắng tình cha, ông xót thương và thấu hiểu niềm khao khát có cha của cậu bé + Ngưỡng mộ, khâm phục sự dũng cảm và tấm lòng trung thực, sáng trong của cậu bé. Hướng dẫn chấm: – Học sinh trả lời tương đương như đáp án: 0,5 điểm – Học sinh trả lời đúng 1 ý: 0,25 điểm – Học sinh trả lời không thuyết phục hoặc không trả lời: 0,0 điểm *Lưu ý: Học sinh có thể trả lời khác đáp án nhưng thuyết phục, diễn đạt nhiều cách miễn hợp lí là chấp nhận được. |
0,5 | |||
| 6 | Bài học rút ra sau khi đọc văn bản:
– HS có thể rút ra những bài học khác nhau: Bài học về lòng trung thực trong cuộc sống , bài học về sự quan tâm thấu hiểu…. – Có lí giải phù hợp Hướng dẫn chấm: – Học sinh trả lời được 01 bài học hợp lí: 1,0 điểm – Học sinh trả lời có nội dung phù hợp nhưng diễn đạt chưa tốt: 0,5 điểm – Học sinh trả lời không thuyết phục hoặc không trả lời: 0,0 điểm *Lưu ý: Học sinh có thể trả lời khác đáp án nhưng thuyết phục, diễn đạt nhiều cách miễn hợp lí là chấp nhận được. |
1,0 | |||
| II | VIẾT | 5,0 | |||
| a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận về một vấn đề xã hội | 0,5 | ||||
| b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận:
Sự cần thiết của tinh thần hợp tác trong cuộc sống |
0,5 | ||||
| c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm
HS có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần giới thiệu được vấn đề cần bàn luận, nêu rõ lí do và quan điểm của bản thân, hệ thống luận điểm chặt chẽ, lập luận, dẫn chứng thuyết phục. Sau đây là một số gợi ý: – Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề nghị luận – Giải thích: + Hợp tác là chung sức làm việc, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau trong công việc, lĩnh vực nào đó vì mục đích chung. + Tinh thần hợp tác tốt với mọi người của mỗi cá nhân được hiểu là thái độ sống tích cực, cùng liên kết, giúp đỡ lẫn nhau để đạt hiệu quả cao trong công việc, trong học tập, vì lợi ích chung. + Thái độ hợp tác tốt với mọi người của mỗi cá nhân được thể hiện ở việc biết lắng nghe ý kiến của mọi người; biết chia sẻ những thuận lợi, khó khăn vướng mắc trong công việc; tin tưởng và đặt niềm tin vào người khác; sẵn sàng góp ý trên tinh thần trách nhiệm, thân ái và xây dựng. – Bàn luận: sự cần thiết của tinh thần hợp tác trong cuộc sống: + Sự hợp tác, đoàn kết giúp con người gắn kết với nhau, tạo nên sức mạnh to lớn cả về tinh thần lẫn vật chất, làm được những việc lớn lao và chắc chắn thành công trong công việc. + Nếu không có tinh thần hợp tác với mọi người, bản thân sẽ làm việc đơn độc, không nhận được sự hỗ trợ và giúp đỡ của tập thể, khó vượt qua khó khăn để hoàn thành tốt công việc. Người không muốn hợp tác thường tách mình ra khỏi tập thể, sống ích kỉ, thờ ơ, vô cảm. Những người như thế thật đáng chê trách. – Liên hệ bản thân, rút ra bài học: rèn luyện tinh thần hợp tác với bạn bè, tích cực tham gia các hoạt động chung của tập thể và cộng đồng, xây dựng mối liên kết bền chặt với những người xung quanh, không ngừng phấn đấu học tập và rèn luyện bản thân để trở thành người hữu ích, mai này đem sức mình xây dựng quê hương, đất nước. Lưu ý: Học sinh cần có dẫn chứng làm sáng tỏ vấn đề nghị luận Hướng dẫn chấm: – Lập luận chặt chẽ, lý lẽ sắc sảo, dẫn chứng thuyết phục: 2.5 – 3.0 điểm. – Lập luận chưa chặt chẽ, có lý lẽ và dẫn chứng hợp lý: 1.75 – 2.25 điểm – Luận điểm chưa rõ ràng, lý lẽ vụng về, dẫn chứng chưa phù hợp: 1.0 – 1.5 điểm. – Bài viết lan man, chưa đúng trọng tâm: 0.5 – 0.75 điểm – Không làm bài/làm lạc đề: không cho điểm |
3.0 | ||||
| d. Chính tả, ngữ pháp
Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt. Hướng dẫn chấm: Không cho điểm nếu bài làm có quá nhiều lỗi chính tả, ngữ pháp. |
0,5 | ||||
| e. Sáng tạo:
Bài viết có giọng điệu riêng; cách diễn đạt sáng tạo, văn phong trôi chảy |
0,5 | ||||
| I + II | Tổng điểm | 10 | |||
📚 Ghi chú bản quyền & lời cảm ơn
Các tài liệu trên website được biên tập, định dạng lại và tổng hợp
từ nhiều nguồn công khai, nhằm mục đích hỗ trợ học tập, chia sẻ tri thức cho cộng đồng học sinh.
Nếu bạn là tác giả hoặc sở hữu bản quyền và không muốn nội dung xuất hiện tại đây, vui lòng liên hệ qua email mrcao.aof@gmail.com để mình gỡ xuống ngay. Xin chân thành cảm ơn!
⚠️ Trang web không thu bất kỳ khoản phí nào khi tải tài liệu. Mọi nội dung đều miễn phí cho học sinh và giáo viên.
🚫 Khuyến nghị: Không thực hiện thanh toán dưới bất kỳ hình thức nào cho các quảng cáo hoặc liên kết mạo danh website.
📚 Tham gia nhóm tài liệu
Cập nhật tài liệu, đề thi và bài ôn tập miễn phí mỗi ngày qua các kênh chat:
📝 Tổng hợp đề kiểm tra Cuối học kì 1 môn Ngữ văn từ lớp 6 → 12
Bộ sưu tập đề kiểm tra Cuối học kì 1 môn Ngữ văn cho học sinh từ lớp 6 đến lớp 12. Mỗi đề đều kèm đáp án và hướng dẫn chấm chi tiết giúp học sinh ôn luyện hiệu quả trước kỳ thi.
🧠 Cập nhật liên tục – giúp học sinh ôn tập vững vàng trước kỳ thi cuối học kì 1.