📝 Tổng hợp đề kiểm tra giữa học kì 1 môn Ngữ văn từ lớp 6 → 12
Bộ sưu tập đề kiểm tra Cuối học kì 1 môn Ngữ văn cho học sinh từ lớp 6 đến lớp 12. Mỗi đề đều kèm đáp án và hướng dẫn chấm chi tiết giúp học sinh ôn luyện hiệu quả trước kỳ thi.
🧠 Cập nhật liên tục – giúp học sinh ôn tập vững vàng trước kỳ thi cuối học kì 1.
| UBND THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH
TRƯỜNG THCS MỸ TIẾN
|
ĐỀ KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG HỌC KỲ I
NĂM HỌC 2024 – 2025 Môn: Ngữ Văn lớp 9 Thời gian làm bài: 90 phút (không kể thời gian giao đề) Đề khảo sát gồm 2 trang |
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
THẦY HIỆU TRƯỞNG
Thầy hiệu trưởng của chúng tôi là một người ôn hòa, dễ mến. Dáng người thầy cao, đầu hói, đeo kính, râu pha trộn giữa những sợi đen và những sợi bạc dài xuống ngực. Thầy thường xuyên mặc bộ quần áo màu xám, đóng cúc đến tận cằm, trông người ôn hòa, dễ mến rất trang trọng và nghiêm nghị.
Những bạn vi phạm kỷ luật mà bị gọi vào phòng hiệu trưởng thì rất run sợ nhưng thầy hiệu trưởng không trách mắng họ, chỉ nắm tay họ và nói lần sau không được làm như thế nữa. Thầy còn an ủi, động viên họ sau này phải làm một đứa trẻ ngoan. Lời nói của thầy rất nhẹ nhàng, thái độ rất ôn hòa, mỗi khi bước ra khỏi phòng thầy, mắt các bạn ấy đỏ hoe. Họ cảm thấy xấu hổ vì những chuyện mà mình đã làm.
Sáng nào cũng vậy, thầy hiệu trưởng là người đầu tiên đến trường. Thầy chờ học sinh đến trường, chờ phụ huynh tìm gặp mình nói chuyện. Khi tan học, thầy là người cuối cùng rời khỏi trường. Bởi vì thầy phải đi kiểm tra ở quanh trường xem có học sinh nào đi trên đường không chú ý an toàn hay không, xem có học sinh nghịch ngợm nào mải chơi không về nhà không. Những bạn đùa nghịch trên đường, chỉ cần nhìn thấy dáng người cao lớn của thầy hiệu trưởng là lập tức giải tán ngay. Lúc ấy, thầy hiệu trưởng đứng xa dõi theo họ, ánh mắt buồn nhưng chất chứa tình yêu thương.
Nghe mẹ nói, từ sau khi con trai của thầy hy sinh trên chiến trường, hiếm khi nhìn thấy thầy cười. Bây giờ trên bàn làm việc của thầy vẫn còn tấm ảnh con trai. Khi con trai hy sinh, thầy hiệu trưởng đã muốn từ chức. Ngay cả đơn xin nghỉ cũng viết xong rồi. Chỉ có điều thầy không nỡ rời xa học trò nên không thể hạ quyết tâm được.
Một lần, thầy hiệu trưởng muốn rời khỏi trường. Đúng lúc ấy bố tôi đến trường, bố liền khuyên thầy: “Thầy hiệu trưởng, nếu thầy đi thì thật đáng tiếc. Các em học sinh không thể rời xa thầy được”. Lúc ấy một ông bố dẫn một em bé vào phòng và nói muốn chuyển trường. Thầy hiệu trưởng tỏ ra rất ngạc nhiên, kéo em bé ấy đến bên mình, nâng cằm em ấy, nhìn em ấy một lúc rồi mới nói đồng ý. Sau đó, thầy ghi tên họ để hai bố con họ về còn mình thì chìm vào suy tư. Lúc ấy, bố tôi nói: “Thầy mà từ chức thì trường học sẽ thế nào?”. Thầy hiệu trưởng nghe vậy, liền lấy tờ đơn trong ngăn kéo, xé làm đôi rồi nói: “Sau này tôi không nhắc đến chuyện từ chức nữa”.
(Trích Những tấm lòng cao cả, Ét-môn-đô A-mi-xi*)
*Chú thích: Ét-môn-đơ A-mi-xi (1846 – 1908) là nhà văn Ý. Ông là nhà hoạt động xã hội, nhà văn lỗi lạc, giàu lòng nhân ái. Ông được biết đến với những tác phẩm dành cho thiếu nhi chứa nhiều ý nghĩa, trong đó nổi tiếng trên toàn thế giới là Những tấm lòng cao cả.
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. (0,25 điểm) Văn bản trên được viết theo thể loại nào? Phương thức biểu đạt là gì?
| A. Truyện ngắn, tự sự
C. Truyện đồng thoại |
B. Truyện ngắn, biểu cảm
D. Tiểu thuyết, tự sự |
Câu 2. (0,25 điểm) Văn bản trên được kể theo ngôi thứ mấy? Ai là người kể chuyện?
| A. Ngôi thứ nhất, tác giả là người kể chuyện.
C. Ngôi thứ ba, người kể chuyện giấu mình. |
B. Ngôi thứ hai, tác giả là người kể chuyện.
D. Ngôi thứ nhất, nhân vật “tôi” là người kể chuyện |
Câu 3. (0,25) Nhân vật thầy hiệu trưởng được khắc họa qua các phương diện:
A. Ngoại hình, hành động
B. Ngoại hình, hành động,lời nói, tâm trạng
C. Hành động, lời nói, tâm trạng
D. Ngoại hình, lời nói, tâm trạng
Câu 4. ( 0,25 điểm) Câu văn nào sau đây sử dụng cách dẫn trực tiếp?
A. Một lần, thầy hiệu trưởng muốn rời khỏi trường.
B. Lúc ấy một ông bố dẫn một em bé vào phòng và nói muốn chuyển trường.
C. Thầy hiệu trưởng tỏ ra rất ngạc nhiên, kéo em bé ấy đến bên mình, nâng cằm em ấy, nhìn em ấy một lúc ri mới nói đồng ý
D. Thầy hiệu trưởng nghe vậy, liền lấy tờ đơn trong ngăn kéo, xé làm đôi rồi nói: “Sau này tôi không nhắc đến chuyện từ chức nữa”.
Câu 5. ( 0,25 điểm) Từ nào sau đây là từ Hán Việt?
| A. an ủi | B. kỷ luật | C. trách mắng | D. yêu thương |
Câu 6. Câu nào sau đây là câu rút gọn?
| A. Bây giờ trên bàn làm việc của thầy vẫn còn tấm ảnh con trai. |
| B. Khi con trai hy sinh, thầy hiệu trưởng đã muốn từ chức. |
| C. Ngay cả đơn xin nghỉ cũng viết xong rồi. |
| D. Chỉ có điều thầy không nỡ rời xa học trò nên không thể hạ quyết tâm được. |
Câu 7. Dòng nào thể hiện đúng nhất về phẩm chất của thày hiệu truỏng?
| A. Thày là người rất nghiêm khắc khiến những bạn đùa nghịch trên đường, chỉ cần nhìn thấy dáng người cao lớn của thầy hiệu trưởng là lập tức giải tán ngay. |
| B. Dáng người thày cao, tính cách thày ôn hoà, dễ mến, rất đáng trân trọng
C. Thày là người ôn hoà, dễ mến, thân thiện, tận tuỵ, nhẹ nhàng, yêu thương, hết lòng vì học trò. D. Thày rất yêu thương học trò, không nỡ xa học trò. |
Câu 8. (0,25 điểm) Chủ đề của văn bản trên là:
| A. Ca ngợi, tôn vinh người thày, những người lái đò thầm lặng, đáng kính. |
| B. Khắc hoạ bức chân dung về người thầy đáng kính, đáng trọng |
| C. Kể lại một câu chuyện hay, cảm động về người thầy giáo. |
| D. Thể hiện những phẩm chất cao đẹp chỉ có ở người thầy chân chính. |
Câu 9. (1,0 điểm) Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong các câu văn sau: Khi tan học, thầy là người cuối cùng rời khỏi trường. Bởi vì thầy phải đi kiểm tra ở quanh trường xem có học sinh nào đi trên đường không chú ý an toàn hay không, xem có học sinh nghịch ngợm nào mải chơi không về nhà không.
Câu 10. (1,0 điểm) Qua văn bản trên, em có suy nghĩ và tình cảm gì với những thầy cô giáo đang tận tâm trên bục giảng nhà trường.
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (1,5 điểm). Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày cảm nhận của em về nhân vật thày hiệu trưởng trong văn bản trên?
Câu 2. (4,5 điểm). Viết bài văn nêu suy nghĩ của em về hiện tượng học sinh lạm dụng google và các phần mềm hỗ trợ học tập trên mạng Internet trong việc học tập môn Ngữ văn.
………………..Hết……………………
| PHÒNG GD&ĐT THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH
TRƯỜNG THCS MỸ TIẾN
|
HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ I
NĂM 2024 – 2025 MÔN: NGỮ VĂN 9 Thời gian kiểm tra: 90 phút (không kể thời gian giao đề) |
| Phần | Câu | Nội dung | Điểm | |||||
| I | ĐỌC HIỂU | 4,0 | ||||||
| 1 | A | 0,25 | ||||||
| 2 | D | 0,25 | ||||||
| 3 | B | 0,25 | ||||||
| 4 | D | 0,25 | ||||||
| 5 | B | 0,25 | ||||||
| 6 | C | 0,25 | ||||||
| 7 | C | 0,25 | ||||||
| 8 | B | 0,25 | ||||||
| 9 | -Biện pháp tu từ liệt kê: xem có học sinh nào đi trên đường không chú ý an toàn hay không, xem có học sinh nghịch ngợm nào mải chơi không về nhà không
+ Diễn tả đầy đủ, cụ thể những hành động thể hiện sự ân cần, quan tâm, chăm lo cho học sinh của thầy hiệu trưởng + Thể hiện tình cảm yêu quý, kính trọng thầy của người kể chuyện. -Biện pháp tu từ điệp từ (điệp ngữ) “xem” (hoặc điệp ngữ, điệp cấu trúc câu) + Tạo nhịp điệu nhịp nhàng cho câu văn và thể hiện tình cảm yêu quý, kính trọng thầy của người kể chuyện… + Nhấn mạnh hành động ân cần, quan tâm của thầy hiệu trưởng với học sinh… * Hướng dẫn chấm – HS trả lời chỉ ra biện pháp liệt kê: cho 0,25 điểm – Về tác dụng: + HS trả lời được 2-3 ý cho 0,5 điểm + Trả lời 1 ý cho 0,25 điểm; + Trả lời sai hoặc không trả lời cho 0 điểm.. |
0,25
0,75 |
||||||
| 10 | Suy nghĩ và tình cảm với những thầy cô giáo đang tận tâm trên bục giảng nhà trường:
– Thầy cô giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc đời mỗi người. +Thầy cô dìu dắt, dạy từng con số để chúng ta biết đọc, biết viết. +Thầy cô không chỉ giúp chúng ta được tiếp cận nguồn tri thức của nhân loại mà còn khơi gợi trong ta những ước mơ, hoài bão, khát vọng cho tương lai và từng bước dìu dắt giúp chúng ta biến ước mơ thành hiện thực. – Tình cảm: Kính trọng, biết ơn thầy cô, từ đó cố gắng học tập, rèn luyện thật tốt để không phụ lòng thầy cô… … *Hướng dẫn chấm: +Thí sinh trả lời được 02 ý suy nghĩ , nêu 2 ý về tình cảm trở lên cho 1 điểm. +Thí sinh trả lời được 01 ý cho 0,5 điểm. +Thí sinh không trả lời, trả lời sai cho 0 điểm. * Lưu ý: Thí sinh có thể diễn đạt khác nhưng đúng ý và thuyết phục vẫn cho điểm tối đa. |
1,0
|
||||||
| II | VIẾT | 6,0 | ||||||
| 1 | Viết đoạn văn ngắn ( khoảng 8 -10 câu), trình bày cảm nhận của em về đoạn thơ trên? | 1, 5 | ||||||
| a. Xác định được yêu cầu về kiểu bài, hình thức, dung lượng của đoạn văn:
– Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ ) của đoạn văn. b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận cảm nhận về nhân vật người thày trong văn bản truyện |
0,25 |
|||||||
| c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận:
– Xác định được các ý chính của bài viết – Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý: * Mở đoạn: Giới thiệu tác phẩm truyện (nhan đề, tác giả) và nêu ý kiến khái quát về tác phẩm – Tác giả: + Ét-môn-đơ A-mi-xi (1846 – 1908) là nhà văn Ý. + Ông là nhà hoạt động xã hội, nhà văn lỗi lạc, giàu lòng nhân ái. + Ông được biết đến với những tác phẩm dành cho thiếu nhi chứa nhiều ý nghĩa, trong đó nổi tiếng trên toàn thế giới là “Những tấm lòng cao cả.” -Tác phẩm “Thầy hiệu trưởng” – Người thầy có tính cách ôn hòa, thân thiện và gần gũi, tận tâm, hết lòng vì học sinh thân yêu. * Thân đoạn: Trình bày được một số nét đặc săc về nội dung, nghệ thuật của tác phẩm – Phân tích được nội dung câu chuyện, từ đó khái quát được chủ đề của tác phẩm: – Vẻ đẹp nhân cách: + Ngoại hình: Dáng người thầy cao, đầu hói, đeo kính, râu pha trộn giữa những sợi đen và những sợi bạc dài xuống ngực. Thầy thường xuyên mặc bộ quần áo màu xám, đóng cúc đến tận cằm, trông người ôn hòa, dễ mến rất trang trọng và nghiêm nghị. + Tính cách: ôn hòa, gần gũi và thân thiện với học sinh. ->Hình dáng giản dị của thầy vô cùng quen thuộc với học sinh. Sáng nào cũng vậy, là người đầu tiên đến trường rồi chờ học sinh đến trường, chờ phụ huynh tìm gặp mình nói chuyện. Khi tan học, thầy là người cuối cùng rời khỏi trường. + Hành động, việc làm, thái độ, tình cảm : + Khi học trò phạm lỗi: không trách mắng họ, chỉ nắm tay họ và nói lần sau không được làm như thế nữa. Thầy còn an ủi, động viên họ sau này phải làm một đứa trẻ ngoan. Lời nói của thầy rất nhẹ nhàng, thái độ rất ôn hòa, mỗi khi bước ra khỏi phòng thầy, mắt các bạn ấy đỏ hoe. + Tận tụy trong công việc: Buổi sáng thầy đến sớm nhất, khi tan học, thầy là người cuối cùng rời khỏi trường , luôn mong muốn được lắng nghe những chia sẻ của học sinh, của phụ huynh, quan tâm xem có học sinh nào đi trên đường không chú ý an toàn hay không, xem có học sinh nghịch ngợm nào mải chơi không về nhà không + Luôn chăm lo và mong muốn được đồng hành cùng phụ huynh trong việc dạy dỗ, giáo dục con cái. ->Đúng phong cách của một nhà giáo dục chân chính. ->Dùng tình yêu thương, sự quan tâm, chia sẻ, lời động viên, khích lệ để cảm hóa học trò – Hàn cảnh đặc biệt: Con trai hi sinh nơi chiến trường. ->Chịu nỗi đau, mất mát khó có thể vượt qua được – lấy tờ đơn trong ngăn kéo, xé làm đôi rồi nói: “Sau này tôi không nhắc đến chuyện từ chức nữa”. ->Vì học sinh, vì sự nghiệp trồng người, thầy buộc phải vượt lên nỗi đau của chính mình, bình ổn tâm trạng, tiếp tục công việc của mình. ->Một thầy giáo đã đặt trách nhiệm với sự nghiệp chung, đặt học sinh lên trên bản thân mình. =>Bức chân dung người thầy đáng kính, đáng trọng ->Ngợi ca những người thầy giản dị, tâm huyết, hết lòng chăm lo cho học sinh. Mặc dù còn nhiều lo toan của cuộc sống gia đình nhưng các thầy cô không quản vất vả, hy sinh để dìu dắt bao thế hệ học trò…: -Phân tích một số đặc sắc nghệ thuật và hiệu quả thẩm mĩ của nó. + Cốt truyện đơn giản nhưng hàm chứa nhiều ý nghĩa sâu sắc, giúp nhân vật bộc lộ tính cách một cách tự nhiên nhất. + Nghệ thuật kể chuyện: ngôi kể thứ nhất thể hiện được tâm tư, tình cảm của người kể chuyện, cách kể chuyện nhẹ nhàng nhưng lắng đọng những thông điệp sâu sắc trong lòng người đọc. + Nhân vật được khắc họa qua nhiều phương diện ngoại hình, gia cảnh, lời nói, hành động. +Tình huống truyện éo le “con hi sinh nơi chiến trường để bộc lộ phẩm chất tốt đẹp.” + Đề tài tuy quen thuộc nhưng vẫn đem lại sự hấp dẫn bởi các tình tiết, sự việc mới lạ. Kết bài: Khẳng định được ý nghĩa của câu chuyện và bài học nhận thức. -Đó là một câu chuyện hay, cảm động về thầy giáo-người lái đò thầm lặng. -Thể hiện những phẩm chất cao đẹp chỉ có ở người thầy chân chính. -Ngợi ca, trân trọng, tôn vinh người dạy học. -Giúp độc giả thêm yêu, trân quý, kính trọng thầy cô của mình hơn. -Thấu hiểu, sẻ chia với thầy cô, chăm ngoan và luôn phấn đấu để trở thành niềm tự hào của thầy cô. |
1,0 | |||||||
| d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau:
– Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn. |
0,25 | |||||||
| Hướng dẫn chấm:
– Viết đúng hình thức đoạn văn, đúng vấn đề nghị luận: 0,25 điểm – Nội dung: + Điểm từ 1,0-> 1,25: Đảm bảo đầy đủ các yêu cầu nêu trên, có ý sâu sắc; vận dụng các thao tác lập luận phù hợp, linh hoạt, văn viết mạch lạc, cảm xúc. – Điểm từ 0,5, -> 0,75: Đảm bảo tương đối đầy đủ các yêu cầu trên; phân tích chưa thật thuyết phục nhưng có ý kiến đánh giá đúng dù chưa thật sâu sắc. – Điểm dưới 0,5: Đảm bảo các yêu cầu trên ở mức độ sơ sài, chưa biết đánh giá; văn còn lủng củng, nhiều lỗi chính tả, dùng từ đặt câu. – Điểm 0: Không làm bài hoặc lạc đề. Lưu ý: Giám khảo cân nhắc trong tổng thể bài làm của thí sinh, linh hoạt tránh đếm ý cho điểm. |
0,25
1,75 |
|||||||
| 2
|
Viết bài văn nghị luận về ô nhiễm môi trường nước và hành động của chúng ta. | |||||||
| 1.Đảm bảo đúng cấu trúc bài văn nghị luận. | 0,25 | |||||||
| 2. Xác định đúng yêu cầu của đề: Nghị luận về ô nhiễm môi trường nước và hành động của chúng ta. | 0,25 | |||||||
| A. Mở bài
– Giới thiệu vấn đề nghị luận: Việc lạm dụng các ứng dụng giải sẵn và Chat GPT vào trong việc học tập môn Ngữ văn. – Ý kiến của bản thân về vấn đề: Đây là một hiện tượng đang ngày càng phổ biến khi các ứng dụng giải sẵn đang phát triển như vũ bão, cùng với sự phụ thuộc quá nhiều vào nó của mỗi người. => Vì vậy, chúng ta nên ngăn chặn việc lạm dụng Chat GPT cùng các ứng dụng giải sẵn cho các mục đích học tập, đặc biệt là môn học Ngữ văn. |
||||||||
| B. Thân bài
1. Làm rõ vấn đề – Lạm dụng: là việc sử dụng quá mức, quá giới hạn được đặt ra nhằm để đạt được lợi ích một cách không công bằng hoặc không chính đáng. – Chat GPT: là một ứng dụng trí tuệ nhân tạo được phát triển với tính năng hỗ trợ người dùng tìm kiếm thông tin, giải đáp các câu hỏi một cách nhanh chóng và chính xác. – Ngữ văn: là một môn học nằm trong chương trình GDPT, có tác dụng giúp học sinh rèn luyện tư duy logic, khả năng ngôn ngữ, sáng tạo, bồi dưỡng tâm hồn, đạo đức, nhân cách con người. – Lạm dụng Chat GPT và các app giải sẵn là việc sử dụng quá mức, không đúng cách Chat GPT và các ứng dụng giải bài tập khác vào trong học tập, đặc biệt là đối với môn Ngữ văn. – Đây là một hành vi không tốt, gây ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện của các bạn trẻ. Trong thời đại công nghệ phát triển như vũ bão, chúng ta càng cần phải kìm hãm hành vi này, thay thế chúng bằng các phương pháp học tập hiệu quả. 2. Trình bày ý kiến cá nhân về vấn đề qua các luận điểm – Luận điểm 1: Ngày nay, học sinh có điều kiện được tiếp xúc với nhiều phương pháp học tập khác nhau để phát huy tối đa khả năng của bản thân. Nhưng vì điều đó mà một số bạn đã dùng sai cách Chat GPT và các app giải sẵn vào việc học môn Ngữ văn của mình dẫn đến việc lạm dụng. Vậy biểu hiệu của việc lạm dụng này là gì? + Biểu hiện của việc lạm dung có thể kể đến như học sinh sử dụng Chat GPT hoặc các app giải sẵn để sao chép trực tiếp những nội dung soạn văn, tìm đáp án cho các đề bài trước khi suy nghĩ, tìm tòi => Hành vi không chỉ là việc đạo văn, ăn cắp chất xám mà còn thể hiện sự thiếu trung thực và thiếu tôn trọng đối với bản thân, thầy cô, và giá trị của việc học. + Lạm dụng các công nghệ giải sẵn còn thể hiện ở việc học sinh không chịu động não, tìm hiểu, suy ngẫm hay tự mình hoàn thành mà ngay lập tức tìm đến các app văn mẫu để tìm những bài văn mẫu hay, chắp vá lại thành bài văn của mình. + Việc sử dụng app giải sẵn để cho ra kết quả mà không tìm hiểu thêm các tài liệu khác để vận dụng vào bài làm cũng là biểu hiện của việc lạm dụng nó quá mức. Các app giải sẵn thường cung cấp thông tin tóm tắt, súc tích, đôi khi thiếu chính xác hoặc đầy đủ. Việc lạm dụng các app đó nhiều khi sẽ khiến học sinh hiểu sai nội dung bài học, thiếu kiến thức nền tảng và không thể vận dụng kiến thức vào thực tế. + Bằng chứng: Trong đời sống hiện nay, không khó để ta bắt gặp tình trạng học sinh sử dụng app giải nhanh: Vietjack, Học 10.vn, Lời giải hay.vn để giải bài tập tiếng Việt mà không hề suy nghĩ, dẫn đến việc không nắm vững kiến thức và không thể áp dụng vào các bài tập khác. – Luận điểm 2: Trong khi có điều kiện được tiếp xúc với nhiều phương pháp học tập khác nhau để phát huy tối đa khả năng của bản thân, nhiều học sinh vẫn lựa chọn cách lạm dụng Chat GPT và các app giải sẵn trong việc học môn Ngữ văn trên trường học. Vậy nguyên nhân của việc lạm dụng đó xuất phát từ đâu? + Đầu tiên, việc lạm dụng các app giải sẵn vào việc học Ngữ văn bắt nguồn từ sự thiếu ý thức về tầm quan trọng của môn Ngữ văn đối với mỗi người. Một vài học sinh coi việc học Ngữ văn là phụ, không quan trọng bằng các môn học khác. + Việc lạm dụng Chat GPT và các ứng dụng giải sẵn trong học tập Ngữ văn còn bắt nguồn từ việc các bạn học sinh thiếu phương pháp học tập hiệu quả. + Bên cạnh đó, hành vi lạm dụng này xảy đến là do sự lười suy nghĩ, lười tư duy, thiếu sự chủ động hoặc chán ghét của các bạn học sinh trong việc học Ngữ văn. + Áp lực từ môi trường học tập, áp lực điểm số và thi cử cũng là nguyên nhân gây ra sự thiếu tự tin vào chính mình ở các bạn học sinh, khiến họ tìm đến các “bài văn mẫu đạt điểm cao” từ Chat GPT và các ứng dụng giải sẵn khác. + Bằng chứng: Theo báo Ấp Bắc – Cơ quan Ngôn luận của tỉnh Tiền Giang trong một bài phỏng vấn giáo viên về việc học văn của các bạn học sinh, kết quả cho thấy tất cả các thầy cô đều nhận thấy rằng nhiều học sinh học văn theo kiểu đối phó, lệ thuộc rất nhiều vào công nghệ văn mẫu, học tủ, học vẹt dẫn đến việc bài kiểm tra kém. Thậm chí, có những bạn còn mất kiến thức rất nghiêm trọng ở môn Ngữ văn… – Luận điểm 3: Chính việc lạm dụng Chat GPT và các app giải sẵn vào việc học Ngữ văn sai cách đã gây ra những hệ lụy và hậu quả xấu đối với cá nhân mỗi người. Với học sinh, việc lạm dụng các ứng dụng công nghệ “ăn sẵn” này sẽ dần khiến các bạn mất đi hứng thú với môn học, giảm khả năng tư duy, gặp khó khăn trong việc giao tiếp và sử dụng ngôn ngữ. + Khi sử dụng quá nhiều Chat GPT và các app giải vào học môn Ngữ văn, các bạn sẽ rơi vào trạng thái ỷ lại vào các “bài làm ăn sẵn”, dẫn đến việc học tập môn này trở nên nhàm chán, vô vị và không có giá trị. + Văn học có tác dụng giúp mỗi người rèn luyện khả năng tư duy logic, phát triển trí thông minh ngôn ngữ. Việc không học tập môn Ngữ văn và phụ thuộc vào các app giải sẵn sẽ dẫn đến việc giảm tư duy logic, không biết cách móc nối, xâu chuỗi lại các vấn đề. + Hơn nữa, khi không chủ động tư duy trong việc học môn Ngữ văn, khu vực trí thông minh ngôn ngữ trong não bộ chúng ta sẽ không được kích thích, phát triển dẫn đến vốn từ vựng của chúng ta trở nên nghèo nàn, gây khó khăn trong giao tiếp. + Quá lạm dụng Chat GPT và các app giải sẵn khác sẽ khiến cho học sinh không có sự động não và tư duy tạo ra cái mới. Điều đó dẫn đến việc suy giảm khả năng sáng tạo, khiến tư duy trở nên khuôn mẫu, đi theo lối mòn. + Bằng chứng: Nhìn vào một bài văn của một học sinh sử dụng các app giải sẵn hỗ trợ và bài làm của một học sinh giỏi Ngữ văn, ta sẽ nhận thấy ngay sự khác biệt. Trong khi bài làm của học sinh giỏi Ngữ văn có sự sáng tạo, linh hoạt và uyển chuyển trong việc sử dụng ngôn ngữ, thì bài làm của học sinh dùng các app “ăn sẵn” lại cứng nhắc, lỗi thời và chắp nhặt từ nhiều nguồn khác nhau. – Luận điểm 4: Không chỉ dừng lại ở việc làm giảm khả năng sáng tạo, tư duy logic, và gây khó khăn trong giao tiếp, việc quá lạm dụng Chat GPT và các ứng dụng công nghệ giải sẵn khác còn gây ra một hệ lụy nghiêm trọng hơn đối với mỗi người. Đó chính là sự vô cảm, khiếm khuyết về mặt cảm xúc, và cằn cỗi về mặt tâm hồn. + Macxim Gorki đã từng nói: “Văn học là nhân học”, vậy nên môn Ngữ văn được đưa vào chương trình phổ thông không chỉ để rèn cho học sinh khả năng ngôn ngữ mà còn để bồi đắp nhân cách và tâm hồn. + Nếu lạm dụng các app giải sẵn vào việc học văn, ta sẽ không bao giờ học được sự tinh tế, nhạy cảm trong các tình huống, khiến chúng ta trở thành người lỗ mãng, kém văn hóa sau này. + Việc lạm dụng các app giải sẵn cùng công nghệ AI sẽ khiến cho ta không biết cách để cảm thụ, phân tích, cảm nhận thấu hiểu các vấn đề đặt ra trong tác phẩm. Để rồi khi gặp tình huống đó trong thực tế, ta sẽ không biết cách ứng xử đúng đắn và giải quyết phù hợp. + Do AI chỉ là công cụ hỗ trợ, nó có thể thông minh nhưng không có tính năng cảm xúc. Vậy nên khi lạm dụng chúng nghĩa là ta đang dần biến mình thành những cỗ máy AI vô hồn, vô cảm. + Bằng chứng: Lỗ Tấn – “Đệ nhất Thánh nhân của Trung Quốc” cho rằng học y không cứu được người Trung Hoa nên chuyển sang học văn. Bởi y học có thể chữa được các bệnh lý của cơ thể nhưng không thể chữa được căn bệnh liên quan đến tâm lý, cảm xúc trong tâm hồn. Điều đó đã cho thấy rằng học văn là thực sự cần thiết trong việc cảm hóa, khơi dậy tâm hồn người. Nếu bỏ quên đi học văn, nghĩa là ta đang bỏ đói chính tình cảm, tâm hồn mình, biến ta thành những người vô cảm. 3. Một số ý kiến trái chiều – Một số người cho rằng, việc học Ngữ văn là không cần thiết trong xã hội bây giờ, nên việc sử dụng Chat GPT và các app giải sẵn là để tiết kiệm thời gian cho thứ không cần thiết đó. – Phản bác: + Ý kiến trên là hoàn toàn thiển cận và không đúng. Bởi vì trong một xã hội khi công nghệ càng chiếm ưu thế, thì việc học Ngữ văn càng cần phải được đề cao. + Nếu không học Ngữ văn, mà chỉ lạm dụng các công nghệ giải sẵn để cho ra kết quả, con người ta sẽ dần bị phụ thuộc vào AI mà đánh mất đi khả năng sáng tạo, trí thông minh ngôn ngữ của chính mình. + Việc lạm dụng Chat GPT và công nghệ vào việc giải văn hay bất kì môn học nào khác sẽ sinh ra một thế hệ trẻ lười suy nghĩ, tư duy, thụ động. Điều này sẽ khiến xã hội dần trở nên tụt hậu, đi xuống. 4. Đề xuất giải pháp để giải quyết vấn đề – Trước hết mỗi cá nhân cần phải nhận thức được rõ ràng tầm quan trọng của việc học Ngữ văn đối với sự phát triển toàn diện của bản thân sau này. – Mỗi người cần hạn chế việc tiếp xúc với Chat GPT cùng các ứng dụng công nghệ giải sẵn khác để không bị phụ thuộc, tập trung và rèn cho mình khả năng tự tư duy, suy nghĩ để giải quyết vấn đề. – Giáo viên và nhà trường cần có phương pháp giảng dạy sáng tạo, thu hút học sinh đối với môn học ngữ văn, định hướng cho học sinh cách sử dụng các ứng dụng công nghệ vào việc hỗ trợ học tập một cách hợp lý. – Gia đình và xã hội cần có thái độ nhìn nhận đúng đắn hơn về vai trò và giá trị của môn Ngữ văn đối với việc bồi đắp nhân cách, tâm hồn của con trẻ, khuyến khích các bạn trẻ học tập môn Ngữ văn một cách hiệu quả, thông minh. |
||||||||
| C. Kết bài
– Khẳng định tầm quan trọng của việc học Ngữ văn: Học Ngữ văn có thể không làm cho con người ta trở nên giàu sang về mặt vật chất nhưng chắc chắn nó sẽ làm cho mỗi người chúng ta giàu có hơn về mặt tinh thần, giúp ta trở thành người tử tế. – Liên hệ bài học nhận thức và hành động cho bản thân: Luôn học tập Ngữ văn một cách nghiêm túc và hiệu quả. Phát hiện ra những cái hay của việc học Ngữ văn để tăng niềm yêu thích của bản thân đối với môn học này và chia sẻ niềm vui của việc học văn đến với bạn bè đồng trang lứa khác. |
||||||||
| *Hướng dẫn chấm:
Cách cho điểm: – Điểm từ 3,5 -> 4,5: Đảm bảo đầy đủ hoặc chưa thật đầy đủ các yêu cầu nêu trên nhưng có ý sâu sắc; vận dụng các thao tác lập luận phù hợp, linh hoạt, văn viết mạch lạc, cảm xúc, có hình ảnh. – Điểm từ 2,25 -> 3,25: Đảm bảo tương đối đầy đủ các yêu cầu trên; phân tích chứng minh chưa thật thuyết phục nhưng có ý kiến đánh giá đúng dù chưa thật sâu sắc. – Điểm 1,25 -> 2,0: Đảm bảo các yêu cầu trên ở mức độ sơ sài, chưa biết phân chia luận điểm; chưa biết đánh giá; văn viết còn lủng củng, nhiều lỗi chính tả, dùng từ đặt câu. – Điểm 0,5-> 1,0: Chưa hiểu đúng đề, phân tích một cách chung chung, thiếu thuyết phục; văn viết sai nhiều lỗi, trình bày cẩu thả. – Điểm 0: Không làm bài hoặc lạc đề. Lưu ý: Giám khảo cân nhắc trong tổng thể bài làm của thí sinh, linh hoạt, tránh đếm ý cho điểm. |
||||||||
| 4. Chính tả, ngữ pháp
Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt. |
0,25 điểm | |||||||
| Tổng điểm | 10,0 | |||||||
*Lưu ý:
– Căn cứ vào khung điểm và thực tế bài làm của học sinh, giám khảo linh hoạt cho điểm sát với từng phần, đảm bảo đánh giá đúng năng lực của học sinh.
– Khuyến khích những bài viết có tính sáng tạo.
– Điểm toàn bài khảo sát là điểm các câu cộng lại và không làm tròn.
☕ Nếu bạn thấy tài liệu này hữu ích, hãy ủng hộ mình một ly cà phê nhỏ để có thêm động lực biên soạn, cập nhật và duy trì website miễn phí, không quảng cáo gây phiền nhé!
💬 Mỗi tháng có hơn 20.000 học sinh truy cập học tập miễn phí — cảm ơn bạn đã giúp mình duy trì dự án này! ❤️
⚠️ Trang web không thu bất kỳ khoản phí nào khi tải tài liệu. Mọi nội dung đều miễn phí cho học sinh và giáo viên.
🚫 Khuyến nghị: Không thực hiện thanh toán dưới bất kỳ hình thức nào cho các quảng cáo hoặc liên kết mạo danh website.
📚 Tham gia nhóm tài liệu
Cập nhật tài liệu, đề thi và bài ôn tập miễn phí mỗi ngày qua các kênh chat:
📝 Tổng hợp đề kiểm tra giữa học kì 1 môn Ngữ văn từ lớp 6 → 12
Bộ sưu tập đề kiểm tra Cuối học kì 1 môn Ngữ văn cho học sinh từ lớp 6 đến lớp 12. Mỗi đề đều kèm đáp án và hướng dẫn chấm chi tiết giúp học sinh ôn luyện hiệu quả trước kỳ thi.
🧠 Cập nhật liên tục – giúp học sinh ôn tập vững vàng trước kỳ thi cuối học kì 1.
📚 Ghi chú bản quyền & lời cảm ơn
Các tài liệu trên website được biên tập, định dạng lại và tổng hợp
từ nhiều nguồn công khai, nhằm mục đích hỗ trợ học tập, chia sẻ tri thức cho cộng đồng học sinh.
Nếu bạn là tác giả hoặc sở hữu bản quyền và không muốn nội dung xuất hiện tại đây, vui lòng liên hệ qua email mrcao.aof@gmail.com để mình gỡ xuống ngay. Xin chân thành cảm ơn!